Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) theo phép lập luận phối hợp phân tích hình tượng nhân vật bà lão trong câu chuyện "một bữa no". Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất một trợ từ và gạch chân trợ từ đóMột bữa no [...] Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cái mà cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiểm mỗi ngày dăm ba xa lại nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu vậy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu!. Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rầy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bùn rùn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt bà lão đau như giần. Đi đã thấy mới chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. [...] Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Mới đầu, còn được ăn mỗi ngày những ba tấm. Sau cùng thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng, bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng. Ai lấy đâu mà ngày nào cũng cho như vậy? Lòng thương cũng có hạn. Mấy hôm nay bà nhịn đói. Bà nằm ẹp bụng xuống chiếu, nghĩ ngợi. Có người nói: những lúc đói, trí người ta sáng suốt. Có lẽ đúng như thế thật. Bởi vì bà lão bỗng tìm ra một kế. Bà ra đi. Cử đi được một quãng ngắn, bà lại phải ngồi xuống nghỉ. Nghỉ một lúc lâu, trống ngực bà mới hết đánh, tại bà bớt lùng bùng, mắt bà bớt tối tăm, người tàm tạm thôi quay quắt. Bà nghỉ tất cả năm sáu quãng. Thành thử đến tận non trưa, bà mới tới nhà minh định tới: ấy là nhà bà phó Thụ, nuôi cái Dĩ. [...] Cái Đĩ vừa trông thấy bà, mừng rối rít. Nó cười rồi nó khóc chẳng biết vi sao cả. Nhưng đôi mắt khoảm khoặm của bà phó Thụ dội nước vào lòng nó. Nó tự nhiên ngượng nghịu. Nó không dám xoắn xuýt bả nó nữa. Nó củi đầu, khẽ hỏi: - Bà đi đâu đấy? - Bà đến xin bà phó một bữa cơm ăn đây! Bà đói lắm. Câu nói rất thật thả ấy, bà lão dùng giọng đùa mà nói. Như thế người ta gọi là nửa dùa nửa thật. Một cách lấp liếm cái ý định của mình bằng cách nói toạc nó ra. Cái Đĩ đã bế em, dắt bà ra đầu chái, để không bị ai nhìn nữa. - Da bà xấu quá! Sao bà gầy thế? Nó cởi dải yếm lấy ra một cái túi rút con con. Trong túi xóc xách mấy đồng trinh. Nó rút ra, đếm lấy hai xu, giúi cho bà: - Con biểu bả để bà ăn bánh đúc. Bà về dị! [...] Bà không về, lẽo dẽo theo đứa cháu vào nhà dưới. Một lát sau, tiếng dũa bát bắt đầu lạch cạch. Bà phó chẳng nói nửa lời, bê lấy bát cơm ăn. Mặt bà vẫn hằm hầm. Lũ con gái, con nuôi, con ở, biết hiệu, vội vàng cũng làm theo. Chậm một ti bà chửi cho phải biết! Có khi bà hắt cả bát cơm vào mặt. Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên: - Mời bà phó... Nhưng bà vừa mới há mồm ra thì bà phó đã cau mặt quát: - Thôi, bà ăn đi! Đừng mời! Bà lão vội vàng ăn ngay. Nhưng họ ăn nhanh quá. Mọi người đều lặng lẽ, cảm củi, mải mốt. Đôi dũa này lên lại có dối khác xuống. Liên tiếp luôn như vậy. Cứ tâm tắp tăm tắp. Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm Lập cập quá, bà đánh rơi cả mắm ra ngoài bát. Bà phó lại cau mặt. Vậy thì bà cứ ăn Ăn đến kì no. Đã ăn rình thì ăn ít cũng là ăn. Đằng nào cũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật. Cái Đĩ ngượng quá, duỗi cổ ra, trợn mắt, nuốt vội mấy miếng cơm còn lại như một con gà con nuốt nhái. Rồi nó buông bát đũa. [...] Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng, Thật ra thì bà tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng, bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. No thẳng cẳng. Bà thở ì ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần, Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, dau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật thì không bỏ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lị. Ruột bà đau quằn quặn. Ăn một tí gì cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no". Và bà dùng ngay cái chết ấy làm một bài học dạy lũ con gái, con nuôi: - Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng nó một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào! (Trích Tuyển tập Nam Cao, NXB Thời đại, 2010) * Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm "Một bữa no" được trích từ “Tuyển tập Nam Cao" của nhà xuất bản thời đại, được sáng tác năm 1943. Đây là thời điểm trước cách mạng, đất nước gặp rất nhiều khó khăn, không ngừng chịu sự hoành hành của giặc ngoại xâm ta còn phải chịu nạn giặc đói và giặc đốt. * Nam Cao (1915 — 1951): Ông tham gia hoạt động cách mạng từ sớm. Ông là nhà văn chuyên viết tiểu thuyết, truyện ngắn,.. với hai đề tài chủ yếu là người nông dân và tri thức. Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) theo phép lập luận phối hợp phân tích hình tượng nhân vật bà lão trong câu chuyện "một bữa no". Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất một trợ từ và gạch chân trợ từ đó |