Một nhà khoa học đang nghiên cứu về trình tự của một đoạn DNA. Ông tách đoạn DNA kép này thành 2 mạch đơn rồi phân tích thành phần base nitrogenous của từng mạch. Sau khi xác định được mạch làm khuôn cho phiên mã, ông phân lập mạch này rồi bổ sung các protein cần thiết cho quá trình phiên mã xảy ra, riêng hỗn hợp B và hỗn hợp C ông còn bổ 1 số thành phần khác có liên quan đến xử lý mRNA. Tỉ lệ phần trăm các loại base nitrogenous của từng mạch đơn DNA và mRNA từ 3 hỗn hợp trên được thể hiện ở bảng dưới đây:
| A | G | C | T | U |
Mạch đơn DNA I | 19.1 | 26.0 | 31.0 | 23.9 | 0 |
Mạch đơn DNA II | 24.2 | 30.8 | 25.7 | 19.3 | 0 |
mRNA từ hỗn hợp A | 19.0 | 25.9 | 30.8 | 0 | 24.3 |
mRNA từ hỗn hợp B | 23.2 | 27.6 | 22.9 | 0 | 26.3 |
mRNA từ hỗn hợp C | 36.0 | 23.0 | 19.1 | 0 | 21.9 |
a) Mạch đơn I và II có khả năng liên kết bổ sung với nhau.