Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu sau. PHẦN ĐỌC HIỆU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Nghịch lý: Tỷ lệ thất nghiệp cao, doanh nghiệp lại thiếu nguồn lao động (Dân trí) - Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở mức thấp chưa từng có trong vòng 10 năm trở lại đây. đấy tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm tăng đột biến, ở mức 3,98% và 4,46%. Sự mất cân đối trong cung ứng lao động và tình trạng thía thấy, thiếu thợ vẫn tồn tại trong thị trường cung ứng lao động Việt Nam. Chất lượng lao động của Việt Nam vẫn ở mức thấp. [...] Bên cạnh đó, nguồn cung lao động cho thị trường cũng giảm do lao động quay trở về quê vì lo sợ dịch bệnh hoặc phải cách ly dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn lao động ở nhiều doanh nghiệp. Cụ thể, số người tham gia lực lượng lao động tiếp tục xu hướng giảm mạnh trong giai đoạn 2019 -2021 do tác động của đại dịch Covid-19. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2021 đạt 50,5 triệu người, giảm 791,6 nghìn người so với năm trước. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2021 là 67,7%, giảm 1,9 điểm phần trăm so với năm trước. Tuy nhiên, mặc dù gặp khó khăn bởi đại dịch, chất lượng lao động vẫn có xu hướng được cải thiện, lao động đã qua đào tạo từ trình độ "Sơ cấp" trở lên năm 2021 là 26,1%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với năm trước. Biến động lực lượng lao động tại Việt Nam giai đoạn 2017-2021 như sau: (Nguồn. Số liệu thống kê về Lao động việc làm, Tổng cục Thống kê, gso.gov.vn, 2021) Về chất lượng lao động, nhìn chung chất lượng lao động tại Việt Nam có xu hướng cải thiện trong những năm trở lại đây, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo từ sơ cấp trở lên tăng từ 21,6% năm 2017 lên 26,1% năm 2021 (Tổng cục Thống kê, 2021). Theo Ngân hàng Thế giới (WB, 2020), chỉ số vốn nhân lực (HCI) của Việt Nam đã tăng từ 0,66 lên 0,69 trong 10 năm 2010 - 2020. Chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam tiếp tục cao hơn mức trung bình của các nước có cùng mức thu nhập mặc dù mức chỉ tiêu công cho y tế, giáo dục và bảo trợ xã hội thấp hơn. Việt Nam là một trong những nước ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương có điểm cao nhất về chỉ số vốn nhân lực (theo WB). Điều này phân ảnh những thành tựu lớn trong giáo dục phổ thông và y tế trong những năm qua. Tuy nhiên, nhìn chung, chất lượng lao động của Việt Nam vẫn ở mức thấp, khiến một bộ phận người (NLĐ) khó tiếp cận với cơ hội việc làm bền vững, trong khi nhiều doanh nghiệp (DN) không tuyền được nhân sự phù hợp. Bên cạnh đó, khi xem xét cơ cấu lao động đã qua đào tạo theo trình độ chuyên môn, có thể nhận thấy rằng, lao động từ đại học trở lên chiếm tỷ trọng khá cao; đến năm 2020, tỷ trọng lao động đang làm việc có trình độ từ đại học trở lên chiếm tới 11,12% trên tổng số lao động, trong khi lao động ở trình độ sơ cấp và trung cấp chỉ chiếm 9.11%; phản ánh sự mất cân đối trong cung ứng lao động và tỉnh trạng thừa thấy, thiếu thợ vẫn tồn tại trong thị trường cung ứng lao động Việt Nam. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật như sau: Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 Câu 1: Xác định đề tài của văn ban. Câu 2: Nguyên nhân nào dẫn đến Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở mức thấp chưa từng có trong vòng 10 năm trở lại đây, đấy tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm tăng đột biến, ở mức 3,98% và 4.46% Câu 3: Nội dung bao quát của văn bản. Câu 4. Hiệu quả của phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản. Câu 5. Nhận xét thái độ, quan điểm của tác giả qua văn bản trên. II. PHẦN VIỆT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bản về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc tiếp bước thế hệ đi trước. Câu 2 (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Một người chín nhớ mười mong một người. Nắng mưa là bệnh của giới, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. (Trích "Tương tư". Nguyễn Bình, SGK Ngữ văn 11, tập 2, NXBGD, tr. 49) Nhớ bản sương giăng, nhứ đèo mây phủ Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương? Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn! (Trích “Tiếng hát con tàu" - Chế Lan Viên, SGK Ngữ văn 12, tập 1, NXBGD, tr. 142) * Chú thích (1)- Nguyễn Bình (1918-1966) được coi là “thi sĩ của đồng quê”. Bằng lối ví von mộc mạc mà duyên dùng mang phong vị dân gian, thơ Nguyễn Bình đã đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quả hương đất nước và tình người đầm thắm, thiết tha - Bài thơ Tương tự rút trong tập “Lô bước sang ngang" - Thôn Đoài: thôn ở phía Tây (2) - Chế Lan Viên (1920-1989) là nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Thơ ông giàu chất suy tưởng triết lí với thế giới hình ảnh đa dạng, phong phú, đầy sáng tạo Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 Câu 1: Xác định đề tài của văn ban. Câu 2: Nguyên nhân nào dẫn đến Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở mức thấp chưa từng có trong vòng 10 năm trở lại đây, đấy tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm tăng đột biến, ở mức 3,98% và 4.46% Câu 3: Nội dung bao quát của văn bản. Câu 4. Hiệu quả của phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản. Câu 5. Nhận xét thái độ, quan điểm của tác giả qua văn bản trên. II. PHẦN VIỆT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bản về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc tiếp bước thế hệ đi trước. Câu 2 (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Một người chín nhớ mười mong một người. Nắng mưa là bệnh của giới, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. (Trích "Tương tư". Nguyễn Bình, SGK Ngữ văn 11, tập 2, NXBGD, tr. 49) Nhớ bản sương giăng, nhứ đèo mây phủ Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương? Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn! (Trích “Tiếng hát con tàu" - Chế Lan Viên, SGK Ngữ văn 12, tập 1, NXBGD, tr. 142) * Chú thích (1)- Nguyễn Bình (1918-1966) được coi là “thi sĩ của đồng quê”. Bằng lối ví von mộc mạc mà duyên dùng mang phong vị dân gian, thơ Nguyễn Bình đã đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quả hương đất nước và tình người đầm thắm, thiết tha - Bài thơ Tương tự rút trong tập “Lô bước sang ngang" - Thôn Đoài: thôn ở phía Tây (2) - Chế Lan Viên (1920-1989) là nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Thơ ông giàu chất suy tưởng triết lí với thế giới hình ảnh đa dạng, phong phú, đầy sáng tạo Bài thơ "Tiếng hát con tàu" rút từ tập "Ánh sáng và phù sa”, lấy cảm hứng từ một sự kiện kinh tế-chính trị, xã hội: cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc vào những năm 1958-1960 |