KHÓC DƯƠNG KHUÊ (Nguyễn Khuyên) Bác Dương thôi đã chơi với Nước máy man mác ngậm ngực lòng sa Nhờ có thưở đồng khoa ngày trước, Vẫn sớm hôm sới bạc cùng nhau, Kình yêu từ trước đến και, Trong khi gặp gỡ khác đầu duyên mới? Cũng có lúc chơi nơι άλη κλάελ Tiếng suối nghe vớc vách lưng đèo Có khi tầng gác cheo lea Thú vạt cơn hát lửa chiều cấm xoang Cùng có lúc rượu ngon cùng nháy Chân quỳnh tương ăn ấp bầu xuân, Có khi bán sage cầu văn Biết bao đồng bích điên phần trước Buổi dương của cùng nhau hope non. Bác giả tối cũng giả với Phiên đầu thăng chẳng dám tham với Biết thác, thôi thể chỉ chối mới là Muốn đi lại xuất giá thêm nhác, Trước ba năm gặp bác mới lần Cầm tay hột hết xa gần Mùng rằng bác vẫn tinh thần chưa cnn, Kể cuối cối còn hơn cưới bác Tớc lại đầu trước bác mấy ngày, Làm sao bác với vẻ ngay Chơi nghe, với bồng chân tay rụng với ái chẳng biết chán đời là phát Vội vàng cao đã mài lên nên Rượu ngon không có bạn kiến, Không mua không phải không tiến không Viết Qua ai, ai biết mà đưa Câu thơ nghĩ đến đo không viết, Giường loa treo những không hợ Đản kha gấy cùng ngắn ngư nắng đàn, Bác chẳng ở dầu van chẳng ở Tôi bị thương, lấy nhớ làm thương, Tuổi già hại lệ như sương Hơi đầu áp lấy hạt hàng chúa char Chu dịch: (Theo Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 2012) "Dương Khiết (1839-1902) người làng Vân Đình, tỉng Phương Đình, tỉnh Hà Đông tay là huyện Ung Hòa, đuộc Hà Nội, đỗ tiến sĩ năm 1868, làm quan đến chức Tông đồc Nam Dịnh, Ninh Bình. Ông là bạn thân của nhà thơ Nguyễn Khuyến Khóc Dương Khúc lúc đầu viết bằng chữ Hán (Vận động niên Văn Đình tiền sử Dương Thương thời, sau đó được chính Nguyễn Khuyến điịch tà chữ Năm và bản chữ Nôm lại cá phân phò biển hơn bản chữ Hìn Cầm xoang (cầm đàn, xoang điện biết, ở đây chỉ việc tác giả và hạn đi hát ở đâم Quink hương: chỉ thứ tượu ngon. Đồng bích thị phòng đọc sách. Đến phần tàu cam phần ngủ đến, chỉ các vách thời thương cả Trung Quốc mà nhà như sau nghiên câu Buổi dương cứu thơi hôi say đổi, vận hạn, ở đây chỉ thân gian nước ta bị thực dân Pháp Phần đầu chăng đầu và thông là đọng vụ đông thức gạo thôn xưa. Các quân ngày nhận lương bằng thóc nên nói phần đầu thông là nói phần ngoi lam quan Gương kia Trần Phân thời hậu Hân có người hạn thân là Từ Trì. Phòa đình nông th bạn một cái giường khi hạn đến chân màn ngủi, lúc hạn về lại trên gương lớn. Đán kia. Tương truyền Bà Nha và Chung Tử Kì là hai người hơn. Hà Nhu là người chín đân giời. Từ Kì có tài nghe tiếng đàn của Đà Như mà hiểu được điều là Nhi đang nghĩ Người ta gọi đó là bạn tại lan thiết được tiếng đành. Sau khi Từ Kô đất, Đà Nhỏ đập bỏ địn vì cho rằng không có ai hữu được tảng đạn của mình. Cô quyết nói là Hà Nhi treo địn không gây nin Câu 1. Bài thơ trên viết theo thể tur sáu và về đề tài gi Câu 1. Chỉ ra 67 ki niệm giữa nhà thơ và hạn của mình được nhắc tới tông hà thơ Câu 3. Phân tích tác dụng của việc sử dùng điển tích trong hai câu thơ m Gương ca treo những hứng bở Đàn kia gấy cứng ngắt ngờ tiếng đàn Câu 4. Nhận xét về tinh bạn của nhà thơ và Dương Khu Câu 5. Bài thơ Khác Dương Khuê (Nguyễn Khuyến giúp anh chị và thêm nhận đức gì về ảnh hạn, tỉnh người hong cuộc sống