Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Chương VI: Tháng Sáu thèm nhãn Hưng Yên
Nhiều người bảo rằng giống nhãn ăn vào nóng lắm. Tôi chưa có dịp nghiên cứu xem lời ấy có đúng không, nhưng có một vài lần tôi đã say nhãn, từa tựa như say rượu nếp cẩm, uống vào ngọt lừ lừ nhưng say lúc nào không biết, say nhè nhẹ, say êm đềm, mà có thể say lơ mơ như thế hai ba ngày. Có người bảo ăn long nhãn cũng có thể say như thế. Long nhãn phần nhiều làm bằng nhãn Lạng Sơn. Đây là đất sản xuất một phần lớn tổng số tiêu thụ trên toàn quốc. Vừa ăn, và ngắm nghía miếng long nhãn, người ta thấy cùi nhãn này dày ở phần trên, mà mỏng ở phía dưới, chớ không dày toàn diện như những quả nhãn lồng, nhãn điếc mà ta ăn hàng ngày hay bóc ra lồng một hạt sen vào bên trong nấu chè để thưởng thức vào những buổi chiều oi bức.
Tôi yêu đất nước tôi vì mỗi vùng có những con cá lá rau, những hoa thơm trái ngọt nổi tiếng, và tôi yêu người nước tôi đã khéo biết đem các thức ăn ngon lành nổi tiếng đó làm thành tục ngữ ca dao, muôn đời nghìn kiếp không sao quên được: cam Xã Đoài, xoài Bình Định, bưởi Đoan Hùng, mít Gio Linh, nhót Thanh Chương, tương Nam Đàn, nhãn Hưng Yên, giò Văn Điển, vịt Bầu Bến, gà trống thiến Lạng Sơn… Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét…
(Trích “Thương nhớ Mười Hai” - Vũ Bằng)
1. Em hãy cho biết câu văn nào thể hiện được cách cảm nhận sự khác biệt của long nhãn cả hình thức và hương vị?
2. Qua đoạn trích thể hiện tình cảm, cảm xúc gì của tác giả?
3. Cái tôi của tác giả Vũ Bằng được thể hiện như thế nào qua đoạn trích?
4. Xác định chủ đề của đoạn trích trên?
5. Hãy rút ra bài học mà em tâm đắc sau khi đọc văn bản?
6. Hãy viết đoạn văn bày tỏ cảm xúc của mình về một sản vật đặc trưng của quê hương em (khoảng 80 đến 100 chữ).
7. Em hãy biết những từ ngữ dưới đây thường sử dụng ở địa phương nào?