Xác định ngôi kể của văn bản trên. Trong câu chuyện, bằng cách nào mà con cáo xảo trá có thể chiếm được miếng pho mát cho bản thân mình dễ dàng như vậy?CÁO VÀ QUẠ Một con quạ đang bay liệng trên bầu trời thì nhìn thấy một mẩu pho mát bị người chăn cừu qua đường nào đó làm rơi. Nó bèn sà xuống chụp lấy mẩu pho mát rồi vỗ cánh bay lên một cái cây gần đó để thưởng thức bữa đại tiệc của mình. Nhưng con quạ đã lọt vào tầm mắt của một con cáo xảo trá rắp tâm giành lấy miếng pho mát cho bản thân. Cáo ta bèn lóc cóc chạy đến bên cạnh cái cây và bắt đầu ngợi ca con quạ bằng những lời có cánh. - Cô đúng là một con chim cao quý, tiểu thư quạ ạ. Bộ lông của cô mới lộng lẫy làm sao, mỏ của cô mới sắc nhọn làm sao chứ. Tôi dám chắc cô hẳn phải là nữ hoàng của mọi loài chim. Quạ ta dương dương tự đắc và rất tin vào những lời tâng bốc này. Cáo tiếp tục: - Tôi dám chắc nữ hoàng của mọi loài chim có giọng hót vô cùng tuyệt vời, hay hơn tiếng hót của bất kỳ con chim nào khác. Tất nhiên, quạ thì chẳng có giọng hót hay ho gì cho cam, nhưng nó quyết tâm chứng tỏ cho cáo thấy nó đúng là nữ hoàng của mọi loài chim, vậy nên nó bèn há mỏ ra lớn tiếng kêu quạ quạ. Mẩu pho mát rơi xuống và cáo ngay lập tức chộp lấy. “Nếu mi đích thực là nữ hoàng của mọi loài chim, vậy thì lẽ ra mi phải có đầu óc chứ”, nó nói xong liền chạy biến đi, để mặc cho con quạ giận dữ hối tiếc về sự ngu ngốc của mình. (Trích trong “Ngụ ngôn Aesop” - Huyền Vũ dịch - NXB Văn học 2015 - Trang 14). Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản trên. Câu 2. Trong câu chuyện, bằng cách nào mà con cáo xảo trá có thể chiếm được miếng pho mát cho bản thân mình dễ dàng như vậy? Câu 3. Chỉ ra phép liên kết và từ ngữ liên kết trong đoạn văn sau: Một con quạ đang bay liệng trên bầu trời thì nhìn thấy một mẩu pho mát bị người chăn cừu qua đường nào đó làm rơi. Nó bèn sà xuống chụp lấy mẩu pho mát rồi vỗ cánh bay lên một cái cây gần đó để thưởng thức bữa đại tiệc của mình. Câu 4. Em hãy giải thích thành ngữ “dương dương tự đắc”? Câu 5. Cáo và Quạ để chỉ những người có tính cách như thế nào trong cuộc sống? Câu 6. Trong cuộc sống, có thể chúng ta được nghe những lời khen ngợi từ người khác. Theo em, ta cần có thái độ như thế nào khi nghe những lời nói như thế?
ĐỀ SỐ 2 I. PHẦN ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau: HOẠ MI, VẸT VÀ QUẠ Ngày xửa ngày xưa, hoạ mi, vẹt và quạ đều không biết hát. Một hôm, hoạ mi nói với các bạn: - Tôi thấy chim hoàng oanh hát hay lắm nhé! Thật đáng ngưỡng mộ! Vẹt nghe hoạ mi nói vậy liền bảo: - Hay chúng ta đến gặp hoàng oanh, nhờ cậu ấy dạy hát cho. Hoạ mi và quạ đồng ý. Cả ba đến gặp chim hoàng oanh và nói mong muốn của mình. Hoàng oanh đồng ý ngay. Hoàng oanh nói với ba bạn: - Học hát rất vất vả, các bạn phải chịu khó nhé! Mấy ngày đầu, hoàng oanh dạy các bạn luyện giọng. Quạ không kiên nhẫn được, nghĩ trong bụng: “Hôm nào cũng luyện giọng thế này, bao giờ mới hát được cơ chứ?”. Được vài hôm, quạ càu nhàu: - Sao cứ luyện giọng mãi thế? Nói rồi quạ chán nản bay đi, không học nữa. Chỉ có hoạ mi và vẹt là vẫn chăm chỉ đến nhà hoàng oanh học. Ngày ngày trôi qua, hoạ mi và vẹt đã hát được với giọng êm ái. Còn quạ thì chỉ biết phát ra âm thanh buồn bã: quạ... quạ... quạ... (Truyện dân gian Việt Nam) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên. Câu 2. Hoàng oanh đã nói điều gì với ba bạn chim trước khi bắt đầu dạy hát? Câu 3. Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau: Ngày ngày trôi qua, hoạ mi và vẹt đã hát được với giọng êm ái. Câu 4. Nêu công dụng của dấu chấm lửng trong câu văn sau: . Còn quạ thì chỉ biết phát ra âm thanh buồn bã: quạ... quạ... quạ... Câu 5. Nhận xét nhân vật con quạ trong câu chuyện có tính cách gì? Câu 6. Từ câu chuyện trên, em hãy rút ra bài học có ý nghĩa với bản thân (trình bày từ 3 - 5 dòng). ĐỀ SỐ 3 I. PHẦN ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau: CÁO VÀ CÒ Ngày xửa ngày xưa, có một con Cáo rất xảo quyệt và tinh nghịch. Nó thường giả vờ thân thiện sau đó chơi khăm những con vật khác. Một ngày nọ, cáo gặp một chị Cò. Nó kết bạn với Cò và ra vẻ thân thiện, mời Cò tới nhà ăn tối. Chị Cò vui vẻ nhận lời. Tối hôm đó, chị Cò vui vẻ tới nhà Cáo như lời mời. Cáo mời Cò vào nhà và bưng ra hai bát súp. Nó múc súp ra hai cái đĩa rất là nông! Chị Cò không thể nào ăn được súp với mỏ dài của mình, còn Cáo thì dễ dàng liếm một loáng là hết đĩa súp. Thấy Cò như vậy Cáo rất khoái trá nhưng vẫn giả vờ quan tâm hỏi: – Sao chị không ăn? Súp không ngon à? Chị Cò với cái bụng đói meo trả lời: – Ồ, súp rất ngon, nhưng tôi bị đau dạ dày và không thể ăn thêm được nữa Cáo ạ. Thế rồi Cò đi về sau khi đã cảm ơn Cáo, và không quên mời Cáo đến nhà ăn tối. Tới ngày hẹn, Cáo tới nhà Cò để dùng bữa tối như được mời. Sau khi chuyện trò, chị Cò đi vào bếp để lấy súp ra mời Cáo ăn. Lần này, chị Cò múc súp ra hai cái lọ hẹp với cái cổ rất dài. Cò ăn súp dễ dàng với cái mỏ dài của mình, còn Cáo rõ ràng không thể nào ăn được. Sau khi kết thúc bữa ăn, chị Cò nhẹ nhàng hỏi Cáo – Bạn dùng bữa có ngon không bạn Cáo? Cáo nhớ lại những gì mình đã chơi xấu Cò và cảm thấy rất xấu hổ. Nó chỉ biết lắp bắp: – Tôi … tôi phải về đây. Bụng tôi bỗng dưng đau quá! Rồi cụp đuôi chuồn về trong nỗi nhục nhã. (Cáo và cò- trang 7-NXB thông tin) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên. Câu 2. Khi mời Cò đến nhà ăn tối, Cáo đã có hành động gì? Câu 3. Chỉ ra phép liên kết và từ ngữ liên kết trong đoạn văn sau: Ngày xửa ngày xưa, có một con Cáo rất xảo quyệt và tinh nghịch. Nó thường giả vờ thân thiện sau đó chơi khăm những con vật khác. Câu 4. Nêu công dụng của dấu chấm lửng trong câu văn sau: Tôi … tôi phải về đây. Bụng tôi bỗng dưng đau quá! Câu 5. Việc Cò biết Cáo cố tình chơi khăm mình nhưng vẫn cảm ơn Cáo, nói rằng mình bị đau dạ dày và mời Cáo hôm sau đến nhà ăn tối cho thấy Cò có đặc điểm tính cách như thế nào? Câu 6. Từ câu chuyện, em rút ra được bài học gì trong cuộc sống? (trình bày 3-5 dòng). Đề 4 Đọc văn bản sau: HAI NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH VÀ CON GẤU Có hai người bạn đang đi trong rừng thì một chú gấu nhảy ra vồ. Tình cờ, người đi trước túm được một cành cây và ẩn mình trong đám lá. Người kia không biết trông cậy vào đâu, đành nằm bẹp xuống đất, mặt vùi trong cát. Gấu đến gần dí mõm vào tai người này ngửi, ngửi mãi,… Nhưng cuối cùng, gấu hú lên một tiếng, lắc đầu rồi lững thững bỏ đi, vì gấu không ăn những con vật chết. Bấy giờ, người trên cây trèo xuống gặp bạn, cười và nói rằng: “Ông Gấu thì thầm gì với cậu điều gì đó?” “Ông ấy bảo tớ rằng”, người kia nói, “không nên tin vào những kẻ bỏ mặc bạn bè trong cơn hoạn nạn” (In trong Truyện ngụ ngôn Ê-dốp, Phạm Khải Hoàn dịch, NXB Văn học, 2013) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1: Xác định ngôi kể của văn bản trên. Câu 2: Chỉ ra những nhân vật xuất hiện trong văn bản. Câu 3. Chỉ ra phép liên và từ ngữ liên kết trong hai câu văn sau: Gấu đến gần dí mõm vào tai người này ngửi, ngửi mãi,… Nhưng cuối cùng, gấu hú lên một tiếng, lắc đầu rồi lững thững bỏ đi, vì gấu không ăn những con vật chết Câu 4. Nêu công dụng của dấu chấm lửng trong hai văn sau: Gấu đến gần dí mõm vào tai người này ngửi, ngửi mãi,… Câu 5. Em hiểu thế nào về lời khuyên: “Không nên tin vào những kẻ bỏ mặc bạn bè trong cơn hoạn nạn” Câu 6. Từ văn bản trên, em rút ra bài học gì cho bản thân? (trình bày 3-5 dòng) ĐỀ SỐ 5 I. PHẦN ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau: THỎ THAY RĂNG Trong một khu rừng nọ có một chú thỏ rất nhát gan. Cứ nhìn thấy bóng dáng của cáo là thỏ vội quay đầu bỏ chạy. Có cách gì giúp mình không sợ cáo nữa không? Suy nghĩ mãi, cuối cùng thỏ nghĩ ra một cách rất hay, ấy là thay một bộ răng trông thật hung dữ. Nó tìm đến bác sĩ hạc, bảo: - Bác sĩ hạc yêu quý, bác chuyên chữa răng cho mọi người, xin bác thay cho cháu một hàm răng mới. Bác sĩ hạc ngạc nhiên: - Sao thế? Răng của cháu vẫn còn rất tốt mà. Tuy răng của cháu không bị hỏng, nhưng mà nó quá nhỏ. Bác lắp cho cháu một hàm răng giống như của sư tử ấy. - Nhưng cháu muốn có hàm răng giống như của sư tử để làm gì vậy? - Cháu không muốn cứ nhìn thấy cáo là phải chạy trốn nữa. Nếu mà làm cho cáo phải chạy khi nhìn thấy cháu thì hay biết mấy. Bác sĩ hạc rất thông cảm cho hoàn cảnh của thỏ, liền thay cho nó một hàm răng giống như của sư tử. Thỏ soi gương, sung sướng thốt lên - Tuyệt quá, giờ mình sẽ đi tìm cáo! Thỏ vào rừng, xông xáo khắp nơi tìm cáo. Lúc sau, cáo từ bụi cây bước ra, tiến về phía thỏ. Trông thấy cáo từ xa, thỏ sợ quá co giò chạy biến. Nó chạy đến nhà bác sĩ hạc, lắp bắp: - Bác... bác... sĩ ơi! Xin bác thay cho cháu hàm răng khác. - Sao thế? Hàm răng này không tốt à? - Không, không phải ạ! Hàm răng này vẫn nhỏ quá. Bác có hàm răng nào to hơn không ạ? Dù có thay hàm răng to hơn thì cũng chẳng có tác dụng gì đâu, cháu sẽ vẫn sợ cáo thôi. Thỏ con này, cháu nên thay tim ấy, bỏ trái tim thỏ đi và thay bằng trái tim sư tử thì mới được. (https://truyendangian.com/) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên. Câu 2. Câu “Có cách gì giúp mình không sợ cáo nữa không?” là suy nghĩ của ai? Câu 3. Chỉ ra phép liên kết và từ ngữ liên kết trong hai câu văn sau: Thỏ vào rừng, xông xáo khắp nơi tìm cáo. Lúc sau, cáo từ bụi cây bước ra, tiến về phía thỏ Câu 4. Dấu chấm lửng trong câu văn “Bác…bác…sĩ ơi!” có tác dụng gì? Câu 5. Em hiểu như thế nào về lời khuyên của bác sĩ hạc: Dù có thay hàm răng to hơn thì cũng chẳng có tác dụng gì đâu, cháu sẽ vẫn sợ cáo thôi. Thỏ con này, cháu nên thay tim ấy, bỏ trái tim thỏ đi và thay bằng trái tim sư tử thì mới được. Câu 6. Từ câu chuyện trên, em rút ra bài học gì cho bản thân? (trình bày 3-5 dòng) ĐỀ SỐ 6 I. PHẦN ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau: CON LỪA VÀ BÁC NÔNG DÂN Một ngày nọ, con lừa của một ông chủ trang trại sẩy chân rơi xuống một cái giếng. Lừa kêu la tội nghiệp hàng giờ liền. Người chủ trang trại cố nghĩ xem nên làm gì… Cuối cùng ông quyết định: con lừa đã già, dù sao thì cái giếng cũng cần được lấp lại và không ích lợi gì trong việc cứu con lừa lên cả. Thế là ông nhờ vài người hàng xóm sang giúp mình. Họ xúc đất và đổ vào giếng. Ngay từ đầu, lừa đã hiểu chuyện gì đang xảy ra và nó kêu la thảm thiết. Nhưng sau đó lừa trở nên im lặng. Sau một vài xẻng đất, ông chủ trang trại nhìn xuống giếng và vô cùng sửng sốt. Mỗi khi bị một xẻng đất đổ lên lưng, lừa lắc mình cho đất rơi xuống và bước chân lên trên. Cứ như vậy, đất đổ xuống, lừa lại bước lên cao hơn. Chỉ một lúc sau mọi người nhìn thấy chú lừa xuất hiện trên miệng giếng và lóc cóc chạy ra ngoài. (Con lừa và bác nông dân. TruyenDanGian.com) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên. Câu 2. Trong đoạn 1 của văn bản cho biết con lừa rơi vào trong hoàn cảnh (tình huống) nào? Câu 3. Vì sao bác nông dân quyết định chôn sống chú lừa? Câu 4. Nêu tác dụng của dấu chấm lửng trong câu văn sau: Lừa kêu la tội nghiệp hàng giờ liền. Người chủ trang trại cố nghĩ xem nên làm gì… Câu 5. Nhận xét chú lừa trong câu chuyện có đặc điểm tính cách như thế nào? Câu 6. Bài học có ý nghĩa nhất mà em rút ra từ câu chuyện? (trình bày 3-5 dòng) ĐỀ SỐ 7 I. PHẦN ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau: CON NGỰA VÀ KỴ SĨ Một kỵ sĩ nọ đã trải qua đủ mọi khó khăn, gian khổ cùng với con ngựa của mình. Trong suốt thời gian xảy ra chiến tranh, chú ngựa luôn được xem là người bạn đồng hành và là trợ thủ đắc lực của anh. Ngựa ta được chải lông cẩn thận mỗi ngày, được cho ăn cỏ khô và yến mạch. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, khẩu phần cỏ khô và ngũ cốc bị cắt giảm, ngựa phải ăn trấu và bất cứ thứ gì nó có thể tìm thấy bên vệ đường. Nó cũng bị bắt phải làm việc cực nhọc và thường phải chở những kiện hàng nặng quá sức mình. Thời gian qua đi, chiến tranh lại nổ ra, người kỵ sĩ nọ mang bộ yên cương ra đặt lên lưng con ngựa của mình; sau khi đã khoác lên người bộ áo giáp nặng trịch, anh ta leo lên lưng ngựa phóng ra chiến trường. Nhưng con ngựa không còn chịu nổi sức nặng đó nữa, nó ngã lăn ra. Nó nói với ông chủ của mình: - Ngài phải ra trận bằng chính đôi chân của mình thôi, vì ngài đã biến tôi từ một con chiến mã thành một con lừa rồi. (Trích Tuyển tập truyện ngụ ngôn hay nhất của Aesop, NXB Trẻ, 2014, tr.71-72) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản trên. Câu 2. Sau chiến tranh, con ngựa bị đối xử như thế nào? Câu 3. Chỉ ra biện pháp tu từ trong câu văn sau: Thời gian qua đi, chiến tranh lại nổ ra, người kỵ sĩ nọ mang bộ yên cương ra đặt lên lưng con ngựa của mình; sau khi đã khoác lên người bộ áo giáp nặng trịch, anh ta leo lên lưng ngựa phóng ra chiến trường. Câu 4. Câu nói “Ngài phải ra trận bằng chính đôi chân của mình thôi, vì ngài đã biến tôi từ một con chiến mã thành một con lừa rồi.” thể hiện thái độ gì của con ngựa? Câu 5. Nhận xét về nhân vật chàng kỵ sĩ trong câu chuyện trên. Câu 6. Từ câu chuyện Con ngựa và kỵ sĩ, em rút ra được bài học gì cho bản thân mình? (trình bày 3-5 dòng)
|