Bạn cần đăng nhập mới có thể xem nội dung này
Trần Nhung | Chat Online
25/04/2025 20:59:22

Đọc văn bản sau


Đề số 14:

Đọc văn bản sau:                  

BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ

   Cách thành phố Huế khoảng 50 km về phía Nam, nép mình bên dãy Trường Sơn, núi Bạch Mã trông giống như một con ngựa bạch duỗi chân hướng ra biển mênh mông, đầu và hai chân trước vươn cao đầy vẻ oai hùng. Dưới chân núi là những thung lũng hẹp, dài với những dòng suối trong xanh, tạo nên một vẻ đẹp độc đáo thu hút khách du lịch, đồng thời góp phần phát triển hệ động thực vật phong phú của vùng.

 

<!--[if gte vml 1]> <!--[endif]-->

 

Sơ đồ tham quan Vườn Quốc gia Bạch Mã Nguồn: https://hub2s.com

     (1) Với nhiệt độ trung bình vào mùa hè cao nhất không quá 26 0 C, Bạch Mã là một trong những vùng có khí hậu núi dễ chịu nhất của bán đảo Đông Dương. Vào những năm 30 của thế kỷ 20, khi người Pháp đặt chân tới nơi này họ đã phát hiện ra Bạch Mã có một kho tàng di sản thiên nhiên rất phong phú về đa dạng sinh học, trong đó có nhiều loài quý hiếm. Người Pháp đã cho quy hoạch và xây dựng nơi đây thành một khu nghỉ mát, nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái lý tưởng. Cơ sở hạ tầng được định hình và ra đời đồng loạt với 139 ngôi biệt thự sang trọng, cùng nhiều công trình phục vụ công cộng như ngân hàng, bưu điện, bể bơi, sân bóng, nhà hàng. Trải qua thăng trầm của lịch sử cùng chiến tranh, Bạch Mã bị tàn phá nặng nề và vóc dáng của một khu du lịch chỉ còn là hoài niệm.
      (2) Từ năm 1991, Vườn quốc gia Bạch Mã được chính thức thành lập với tổng diện tích 22.031 ha, nằm trên địa phận hành chính của hai huyện Phú Lộc và Nam Đông của tỉnh Thừa Thiên - Huế. Năm 2008, Vườn quốc gia Bạch Mã được phê duyệt mở rộng diện tích vùng lõi lên 37.487 ha, với những quy hoạch bảo tồn nghiêm ngặt. Mặc dù được thành lập muộn hơn so với những vườn quốc gia khác, nhưng Vườn quốc gia Bạch Mã vẫn giữ được nguyên vẹn những thảm thực vật phong phú và những cánh rừng nguyên sinh hùng vĩ. Độ che phủ rừng chiếm trên 90% tổng diện tích Vườn quốc gia.
      Nơi đây đa dạng về địa hình, diện mạo và nhiều vẻ đẹp của thiên nhiên hoang sơ. Vườn quốc gia Bạch Mã có hai kiểu rừng chính là rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở độ cao dưới 900 m và rừng kín thường xanh, mưa mùa á nhiệt đới ở độ cao trên 900 m. Rừng ở độ cao trên 900 m là rừng có đa dạng sinh học phong phú. Ở đây có 2.373 loài thuộc hệ nấm và thực vật, gồm 332 loài nấm, 87 loài rêu, 183 loài dương xỉ, 22 loài hạt trần và 1.749 loài hạt kín.

     Trong đó có 73 loài cây quý hiếm được liệt kê trong sách Đỏ Việt Nam và 204 loài cần ưu tiên bảo vệ; có trên 500 loài được sử dụng làm thuốc quý, đặc trưng như bảy lá một hoa; hoàng đàn, thích bắc bộ, thạch tùng, hoàng tinh hoa trắng, râu hùm, gừng dại, nghệ đen, sâm lông… có công dụng chữa bệnh. Các loài cây phổ biến chủ yếu mọc ở đỉnh núi thuộc họ kim giao (như tùng bạch mã); một số loài cây lá rộng có giá trị thuộc họ dầu, hộ long não, loài cây gỗ (cẩm lai, trắc, trầm hương, sến đinh, lim, thông Đà Lạt, pơ mu, hồng quang, chổi sể ) và các loài cau dừa, dương xỉ, lan… Ngoài ra Vườn quốc gia cũng có những loài mới được phát hiện như chìa vôi, mây, bọt ếch bạch mã…Không chỉ thực vật mà khu hệ động vật ở Bạch Mã cũng rất phong phú với nhiều loài đặc hữu quý hiếm như voọc ngũ sắc, vượn đen má trắng, sao la, gấu ngựa, báo gấm, khỉ mặt đỏ, mang lớn…

    Cho đến nay, các nhà khoa học đã nghi nhận ở Vườn quốc gia Bạch Mã có 1.715 loài động vật, trong đó có 132 loài thú, 143 loài ếch nhái, bò sát, 57 loài cá và 1.029 loài côn trùng. Khu hệ này có 69 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và 15 loài đặc hữu cần có giải pháp ưu tiên bảo vệ. Đặc biệt, Vườn quốc gia Bạch Mã được coi là “ nơi gọi chim trời” với 363 loài chim, chiếm khoảng 1/3 các loài chim của Việt Nam, trong đó đến 15 loài đặc hữu như họa mi, khướu bạc má, chích ch òe lửa gà lôi trắng, gà lôi lam mào trắng, gà so trung bộ, trĩ sao…

  (3) Trong những năm gần đây, số lượng các loài thực vật và động vật giảm đáng kể. Một số loài đã bị tuyệt chủng.

{...}
      Xây dựng và phát triển cơ sở vật chất của Vườn quốc gia, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu bảo tồn về động vật, thực vật hệ sinh thái điển hình của Vườn. Tạo thuận lợi cho việc đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, phục vụ việc đào tạo, tham quan học tập theo quy định của quy chế quản lý rừng. Khai thác thế mạnh cảnh quan thiên nhiên để phát triển du lịch sinh thái, hướng dẫn giúp đỡ người dân trong vùng tạo việc làm, không ngừng cải thiện đời sống cho cộng đồng dân cư, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và bảo vệ môi trường sinh thái./.

(Dẫn theo dangcongsan.vn/ 22 - 04 - 2014)

Thực hiện yêu cầu:

Câu 1. Xét về cấu tạo, câu văn sau thuộc kiểu câu gì? Trải qua thăng trầm của lịch sử cùng chiến tranh, Bạch Mã bị tàn phá nặng nề và vóc dáng của một khu du lịch chỉ còn là hoài niệm.

Câu 2. Chỉ ra cách trình bày thông tin chủ yếu trong phần (2) của VB .

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của phép tu từ trong câu sau: Cách thành phố Huế khoảng 50 km về phía Nam, nép mình bên dãy Trường Sơn, núi Bạch Mã trông giống như một con ngựa bạch duỗi chân hướng ra biển mênh mông, đầu và hai chân trước vươn cao đầy vẻ oai hùng.

Câu 4. Nêu tác dụng của việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản.

Câu 5. Theo em, chúng ta cần làm gì để bảo vệ sự đa dạng sinh thái của rừng.

Đề số 15:

Đọc văn bản sau:

KHÁM PHÁ DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI MỸ SƠN

     Mang ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn, Khu di tích đền tháp Mỹ Sơn có một vị trí rất quan trọng trong nền văn hóa nghệ thuật của vùng Đông Nam Á. Trước những giá trị nổi bật toàn cầu của một di sản văn hóa cần phải được bảo vệ vì lợi ích của cả nhân loại, ngày 4/12/1999, Di tích này được Uỷ ban Văn hoá Khoa học Giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hoá thế giới.

    Khu di tích Mỹ Sơn thuộc địa phận xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 70 km về hướng tây nam. Di tích tọa lạc trong một thung lũng kín có địa thế núi non hùng vĩ, thâm nghiêm ở tỉnh Quảng Nam, được khởi công từ thế kỷ IV bởi vị vua Bhadravarman (trị vì từ năm 349 đến năm 361) và kết thúc vào cuối thế kỷ thứ XIII, đầu thế kỷ XIV dưới triều vua Jaya Simhavarman III (Chế Mân). 

<!--[if gte vml 1]> <!--[endif]-->

 

Mỹ Sơn tráng lệ, thâm nghiêm, hùng vĩ.

    Nơi đây, 70 công trình đền tháp kết tinh giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật của nền văn minh Chămpa, được đánh giá ngang hàng với các di tích nổi tiếng trong khu vực Đông Nam Á như Borobudur (Indonesia), Pagan (Myanmar), Angkor Wat (Campuchia), là kết tinh của những giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật được tạo lập trong suốt chiều dài 9 thế kỷ (từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ XIII). Mặc dù bị thời gian và chiến tranh tàn phá nặng nề, nhưng những gì còn lại ở Mỹ Sơn vẫn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong di sản lịch sử văn hóa kiến trúc nghệ thuật thế giới.

    Với lịch sử xây dựng và phát triển liên tục qua nhiều thế kỷ, các đền tháp thể hiện sự đa dạng các phong cách kiến trúc nhưng nhìn chung đều ở tư thế cao vút biểu trưng cho sự vĩ đại và thanh khiết của ngọn núi Mêra, nơi cư ngụ của các vị thần và là trung tâm của vũ trụ. Những di tích của khu đền tháp Mỹ Sơn là những công trình quan trọng nhất của nền văn hóa Chămpa. Hầu hết các công trình được kết cấu bằng gạch nung với trụ đá và trang trí những phù điêu sa thạch thể hiện các giai thoại Ấn Độ. Minh chứng kỹ thuật của đền tháp là sự hiện hữu của các kỹ xảo Chăm trong khi sự biểu trưng của các họa tiết và biểu tượng của đền tháp ẩn chứa trong đó nội dung các giai đoạn chính trị và tôn giáo Chămpa.

    Trong số các dạng kiến trúc tháp Chăm, kiến trúc dạng quần thể thánh địa Mỹ Sơn là độc đáo và hiếm có. Được bố trí theo cụm, từ hai hoặc nhiều tháp. Có tường bao, sân, đường đi nối các tháp với nhau. Mỗi tháp có mỗi chức năng riêng. Tập trung thành từng nhóm, trong đó có đền thờ chính nằm ở giữa, mỗi nhóm đều được bao quanh bởi những bức tường khá dày cũng bằng gạch. Cửa chính của tháp chính phần lớn quay về hướng Đông (hướng về thần linh). Một vài tháp lớn chính có thêm cửa hướng Tây. Trước mặt đền thờ chính (Kalan) là một tháp cổng (Gopura) với cấu trúc nhỏ của hai cửa thông nhau: một cửa về hướng Đông, một cửa hướng vào đền chính, tiếp với tháp cổng thường là căn nhà dài (Mandapa) có mái lợp ngói, bên trong rộng rãi vốn là nơi đón khách hành hương và tiếp nhận lễ vật cũng như cử hành các vũ điệu trong lễ cúng hiến cho thần linh.

    Được xây dựng liên tục suốt từ thế kỷ IV cho đến giữa thế kỷ XIII, các đền tháp ở Mỹ Sơn là những công trình kiến trúc chính thống của quốc gia và đều do các đời vua trị vì xây dựng, vì vậy có thể nói rằng đền tháp là nơi tập trung những gì tiêu biểu nhất, tinh hoa nhất điển hình cho nền kiến trúc nghệ thuật đương thời với những dạng thể kiến trúc độc đáo. Hầu hết các phong cách kiến trúc đền tháp Chăm đều có mặt ở Mỹ Sơn và chính bản thân các đền tháp ở Mỹ Sơn lại tạo nên những tiêu chí cơ bản cho việc nhận diện phong cách kiến trúc nghệ thuật Chăm.

    Theo thời gian, qua giao tiếp với các nền văn minh khác và sự tiếp nhận chọn lọc của người nghệ sỹ Chămpa, đền tháp tại Mỹ Sơn mang những đường nét kiến trúc theo các thời kỳ khác nhau thể hiện các luồng văn hóa mà họ tiếp nhận. Là khu đền thờ chính của vương quốc trong suốt chín thể kỷ, nên các đền tháp của Mỹ Sơn cũng thể hiện tính thăng trầm của các thời kỳ, những thay đổi trong lịch sử của các vương triều, những chuyển biến trong đời sống văn hóa.

   Không đồ sộ kỳ vĩ như các quần thể, di tích Chămpa khác nhưng Mỹ Sơn vẫn có một chỗ đứng quan trọng trong nên nghệ thuật Đông Nam Á bởi nó là khu di tích duy nhất của cả khu vực có thời gian phát triển liên tục gần 9 thế kỷ, kiến trúc của Mỹ Sơn đã chắt lọc được những tinh hoa của người nghệ sỹ, sự kết hợp giữa kỹ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí người Chămpa xưa đã tạo cho các đền tháp một vẻ uy nghiêm và kỳ bí./.

(Theo dangcongsan.vn)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên.

Câu 2. Câu văn sau thuộc kiểu câu gì? Theo thời gian, qua giao tiếp với các nền văn minh khác và sự tiếp nhận chọn lọc của người nghệ sỹ Chămpa, đền tháp tại Mỹ Sơn mang những đường nét kiến trúc theo các thời kỳ khác nhau thể hiện các luồng văn hóa mà họ tiếp nhận

Câu 3. Chỉ ra tác dụng của cách trình bày thông tin chi tiết thể hiện trong đoạn văn:

          “Trong số các dạng kiến trúc tháp Chăm, kiến trúc dạng quần thể thánh địa Mỹ Sơn là độc đáo và hiếm có. Được bố trí theo cụm, từ hai hoặc nhiều tháp. Có tường bao, sân, đường đi nối các tháp với nhau. Mỗi tháp có mỗi chức năng riêng. Tập trung thành từng nhóm, trong đó có đền thờ chính nằm ở giữa, mỗi nhóm đều được bao quanh bởi những bức tường khá dày cũng bằng gạch. Cửa chính của tháp chính phần lớn quay về hướng Đông (hướng về thần linh). Một vài tháp lớn chính có thêm cửa hướng Tây. Trước mặt đền thờ chính (Kalan) là một tháp cổng (Gopura) với cấu trúc nhỏ của hai cửa thông nhau: một cửa về hướng Đông, một cửa hướng vào đền chính, tiếp với tháp cổng thường là căn nhà dài (Mandapa) có mái lợp ngói, bên trong rộng rãi vốn là nơi đón khách hành hương và tiếp nhận lễ vật cũng như cử hành các vũ điệu trong lễ cúng hiến cho thần linh.

Câu 4. Văn bản đã sử dụng loại phương tiện phi ngôn ngữ nào? Nêu tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ trong việc thể hiện thông tin văn bản.

Câu 5. Em hãy rút ra những thông điệp có ý nghĩa sau khi đọc văn bản trên.

 

Bài tập đã có 1 trả lời, xem 1 trả lời ... |
Đăng ký tài khoản để trả lời bài tập.
Đăng ký tài khoản để có thể trả lời bài tập này!

Đăng ký qua Google:

Hoặc lựa chọn:
Đăng ký bằng email, điện thoại Đăng nhập bằng email, điện thoại
Lazi.vn