I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Chẳng ai biết lai lịch của bà, chỉ biết tên bà là Diễm. Diễm là đẹp, là diễm lệ. Ngoài vẻ đẹp, còn mang vẻ sang. Có ai gọi một củ khoai là diễm lệ đâu. Hẳn bố mẹ xưa đặt tên cho con cũng thầm ao ước sao cho con vừa đẹp lại vừa khỏi lầm than. Nhưng trông bà cả một sự nhạo báng cái mong ước đó.
Dáng người bà Diễm bé loắt choắt, bộ mặt nhăn nheo, gầy sạm chỉ còn hai con mắt. Bà vừa đi vừa lắc lư cái lưng còng. Chiếc đòn gánh không bao giờ rời khỏi đôi vai còm cõi của bà. Nó bám chặt lấy bà như một thứ nghiệp chướng. Chiếc đòn gánh của bà cũng thật đặc biệt. Nó nhẵn bóng. Ngay cả những vết sẹo cũng đã nhẵn bóng và cũng khó đoán tuổi như chủ nhân của nó vậy. Nó đã tồn tại cùng bà không biết tự bao giờ. Nó được đẽo gọt từ một thân tre cong hằn dấu vết của những cơn gió táp và ra đời chỉ để đón đợi đôi vai còm cõi của bà Diễm mà thôi. Nó và chủ nhân của nó hợp thành một chỉnh thể của sự bất hạnh, hợp thành biểu tượng của một thân cây vừa mới ra đời đã bị gió mưa vùi dập. Cuối hai đầu đòn gánh là đôi thùng đầy nước lắc lư theo những bước chân không đều của bà Diễm và để lại những vệt nước rỏ ròng ròng như suối nước mắt cạnh đường đi. Những lúc đôi vai được rảnh rang, đôi môi bà lại lẩm nhẩm những câu không đầu không cuối. Bà đi và nói như người lẩn thẩn, nhưng những cử chỉ của bà vẫn chính xác một cách kỳ lạ. Đến máy nước bao giờ bà cũng đi sát mép đường bên phải và lặng lẽ đợi đến lượt mình, không xin xỏ, không tranh giành.
Những nhà có máu mặt trong khu này thuê bà gánh nước. Họ chẳng ưa gì bà. Họ săm soi xem thùng nước bà gánh về có trong không. Có đáng đồng tiền của họ bỏ ra không. Có người nghi ngờ, bắt bà tháo cả bể nước đầy ra gánh lại, lấy cớ là bà đã lấy nước bẩn vào bể của họ. Cũng có những người trả tiền sòng phẳng, hậu hĩ là khác nhưng họ đưa tiền cho bà rồi vội quay đi như chỉ sợ dềnh dàng bà nhỡ mồm bắt chuyện thì mất cả thì giờ và mất cả thể diện nữa. Con người ta thường hay chối bỏ quá khứ, nếu quá khứ đó là không vẻ vang. Người đời nay coi nó là bệnh “sĩ”. Nếu như những năm sáu mươi của thế kỷ này người ta cố chứng minh rằng gốc gác của mình là bần cố nông thì trong những năm tám mươi người ta lại cố khoe rằng nhà mình giàu có ra sao, bịa cả những chuyện đài các rởm không biết ngượng mồm. Thôi thì cũng chẳng trách họ, âu cũng là do cách nhìn người của thời đại mà ra. Những bộ mặt đần độn trát bự son phấn vênh váo, đầy kiêu hãnh giả tạo. Và trong cơn mơ đài các sang giàu của họ, bà Diễm chỉ là một kẻ làm thuê, một người gánh nước cho nhà họ. Một thời, chúng ta đã ghê tởm những từ “con ở”, “đầy tớ”, “gái điếm”… Nhưng giờ đây, những từ đó đã và đang lặng lẽ trở về nhắc nhở người ta rằng, chúng có mặt trên đời này.
Vậy là bà Diễm hệt như con gà trụi lông giữa đàn công sặc sỡ. Nhưng bà gắn bó với họ, đúng hơn là với bể nước nhà họ, vì chỉ có họ mới đủ sức thuê bà gánh nước. Còn đa số “người nhà nước” trong khu này chẳng ai đủ tiền để mà thuê, dù muốn giúp bà. Cơm ănchẳng đủ, lấy đâu ra tiền mà thuê gánh nước. Đành phải xếp hàng dài dằng dặc, hoặc thức đến hai ba giờ sáng để lấy mấy thùng nước.
Với đôi thùng gánh nước, cứ thế, bà Diễm đi trong đời như kẻ mộng du và rồi có lẽ với cung cách mộng du ấy bà sẽ lặng lẽ đi xuống mồ, như một hạt bụi tan biến vào không gian chẳng để lại một mảy may dấu vết.
(Trích Người gánh nước thuê, Võ Thị Hảo, 20 truyện ngắn chọn lọc,
NXB Lao động, 2009, tr 291 – 293)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích.
Câu 2. Tìm những chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật bà Diễm.
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp so sánh trong câu văn sau: “Cuối hai đầu đòn gánh là đôi thùng đầy nước lắc lư theo những bước chân không đều của bà Diễm và để lại những vệt nước rỏ ròng ròng như suối nước mắt cạnh đường đi.”
Câu 4. Nhận xét thái độ, tình cảm của nhà văn được thể hiện qua đoạn trích trên.
Câu 5. “Con người ta thường hay chối bỏ quá khứ, nếu quá khứ đó là không vẻ vang. Người đời nay coi nó là bệnh “sĩ”. Nếu như những năm sáu mươi của thế kỷ này người ta cố chứng minh rằng gốc gác của mình là bần cố nông thì trong những năm tám mươi người ta lại cố khoe rằng nhà mình giàu có ra sao, bịa cả những chuyện đài các rởm không biết ngượng mồm. Thôi thì cũng chẳng trách họ, âu cũng là do cách nhìn người của thời đại mà ra. Những bộ mặt đần độn trát bự son phấn vênh váo, đầy kiêu hãnh giả tạo”.
Từ lối sống của những người nhà giàu thuê bà Diễm gánh nước được nhà văn nói tới trong những câu văn trên, anh/chị có suy nghĩ gì về hậu quả của căn bệnh “sĩ” trong đời sống hiện nay?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) để làm nổi bật những nét đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn thơ sau:
Xưa xóm nghèo mái rạ chen nhau
Gồ ghề lối hẹp
Hun hút bờ tre gió rét
Mưa dầm lầy lội bùn trơn
Bà lưng còng chống gậy bước run
Còm cõi vai gầy gánh nặng
Sương trắng mùa đông ngõ vắng
Quét hoài không hết lá khô…
( Trích Những con đường, Lưu Quang Vũ,Thơ tình, NXB Văn học, 2002)
Câu 2. (4.0 điểm)
Trong dòng chảy không ngừng của thời đại, tuổi trẻ luôn được kỳ vọng sẽ là những người dẫn đầu trên con đường lập nghiệp và làm giàu cho xã hội.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề khởi nghiệp.
Bằng cách nhấp vào Đăng nhập, bạn đồng ý Chính sách bảo mật và Điều khoản sử dụng của chúng tôi. Nếu đây không phải máy tính của bạn, để đảm bảo an toàn, hãy sử dụng Cửa sổ riêng tư (Tab ẩn danh) để đăng nhập (New Private Window / New Incognito Window).
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1: Ngôi kể của đoạn trích là ngôi thứ ba.
Câu 2: Những chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật bà Diễm:
"Dáng người bà Diễm bé loắt choắt, bộ mặt nhăn nheo, gầy sạm chỉ còn hai con mắt."
"Bà vừa đi vừa lắc lư cái lưng còng."
"Chiếc đòn gánh không bao giờ rời khỏi đôi vai còm cõi của bà."
Câu 3: Biện pháp so sánh trong câu: "Cuối hai đầu đòn gánh là đôi thùng đầy nước lắc lư theo những bước chân không đều của bà Diễm và để lại những vệt nước rỏ ròng ròng như suối nước mắt cạnh đường đi."
Biện pháp so sánh: "như suối nước mắt".
Tác dụng: Gợi tả sự cơ cực, nhọc nhằn của bà Diễm khi phải gánh nước thuê. Hình ảnh "suối nước mắt" cũng mang ý nghĩa biểu tượng cho nỗi buồn và số phận khổ cực của bà.
Câu 4: Thái độ, tình cảm của nhà văn:
Xót xa, thương cảm cho số phận khốn khổ của bà Diễm.
Phê phán sự vô tâm, lạnh lùng của những người thuê bà gánh nước.
Trăn trở về sự thay đổi trong cách nhìn nhận giá trị con người qua từng thời kỳ.
Câu 5: Hậu quả của căn bệnh "sĩ" trong đời sống hiện nay:
Khiến con người sống giả tạo, chạy theo hư danh mà quên đi giá trị thực sự.
Gây ra sự phân biệt giàu nghèo, làm tăng khoảng cách xã hội.
Khiến nhiều người chạy theo vẻ hào nhoáng bên ngoài, sống không chân thật với chính mình.
Ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của xã hội khi con người không đặt giá trị thực tế lên hàng đầu.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận về những nét đặc sắc nghệ thuật trong đoạn thơ của Lưu Quang Vũ.
Trong đoạn thơ trích từ "Những con đường" của Lưu Quang Vũ, tác giả đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc để tái hiện một bức tranh làng quê nghèo khó nhưng đầy xúc cảm. Trước hết, hình ảnh "xóm nghèo mái rạ chen nhau", "gồ ghề lối hẹp" gợi lên một không gian chật chội, thiếu thốn, làm nổi bật sự vất vả của cuộc sống. Biện pháp liệt kê kết hợp với nhịp thơ ngắn, dồn dập trong các câu thơ "Hun hút bờ tre gió rét / Mưa dầm lầy lội bùn trơn" đã nhấn mạnh sự khắc nghiệt của thiên nhiên đối với con người. Đặc biệt, hình ảnh "bà lưng còng chống gậy bước run" đầy ám ảnh, gợi lên nỗi cô đơn, sự già nua và gánh nặng cuộc đời trên đôi vai gầy guộc. Nghệ thuật tả thực kết hợp với cảm xúc trữ tình đã làm cho hình ảnh người bà trở nên chân thực, gần gũi. Nhờ vào những biện pháp nghệ thuật tinh tế này, Lưu Quang Vũ đã thành công trong việc truyền tải nỗi niềm xót xa, thương cảm cho những mảnh đời bất hạnh và đồng thời gợi nhắc về tình yêu thương, sự gắn bó với quê hương.
Câu 2. (4.0 điểm) Bài văn nghị luận về vấn đề khởi nghiệp.
Khởi nghiệp – con đường chông gai và cơ hội của người trẻ
Trong dòng chảy không ngừng của thời đại, tuổi trẻ luôn được kỳ vọng sẽ là những người dẫn đầu trên con đường lập nghiệp và làm giàu cho xã hội. Khởi nghiệp không chỉ đơn thuần là tạo dựng một doanh nghiệp mà còn là hành trình hiện thực hóa ước mơ, đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước.
Khởi nghiệp mang đến cơ hội lớn để người trẻ thể hiện tài năng, sáng tạo và ý chí kiên cường. Trong thời đại công nghệ 4.0, những ý tưởng mới mẻ có thể nhanh chóng trở thành hiện thực nhờ vào sự hỗ trợ của khoa học, công nghệ và mạng lưới kết nối toàn cầu. Nhiều doanh nhân trẻ đã thành công khi tận dụng được lợi thế của thời đại, như Nguyễn Hà Đông với trò chơi Flappy Bird hay Lê Diệp Kiều Trang với những dự án công nghệ sáng tạo. Điều này chứng tỏ rằng, nếu có đam mê, sự nhạy bén và chiến lược đúng đắn, bất kỳ ai cũng có thể vươn xa.
Tuy nhiên, khởi nghiệp không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng. Người trẻ đối mặt với muôn vàn khó khăn: từ thiếu vốn, kinh nghiệm, cho đến những áp lực cạnh tranh khốc liệt trên thương trường. Nhiều startup thất bại do chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, thiếu kiên trì hoặc chưa tìm được hướng đi đúng đắn. Vì vậy, để khởi nghiệp thành công, mỗi người trẻ cần trang bị cho mình kiến thức vững chắc, khả năng quản lý tài chính, kỹ năng lãnh đạo và đặc biệt là tinh thần không ngừng học hỏi.
Bên cạnh đó, xã hội và chính phủ cần có những chính sách hỗ trợ thiết thực để thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, như cung cấp vốn ưu đãi, tổ chức các khóa đào tạo và tạo môi trường thuận lợi để các startup phát triển. Sự đồng hành của cộng đồng và gia đình cũng là yếu tố quan trọng giúp người trẻ vững bước trên con đường lập nghiệp.
Tóm lại, khởi nghiệp là một hành trình gian nan nhưng cũng đầy tiềm năng và cơ hội. Người trẻ cần mạnh dạn thử thách bản thân, dám nghĩ, dám làm để góp phần xây dựng một nền kinh tế sáng tạo và phát triển bền vững. Thành công không đến ngay tức thì, nhưng với lòng quyết tâm và sự chuẩn bị kỹ lưỡng, mỗi người trẻ đều có thể viết nên câu chuyện thành công của riêng mình.
Hôm nay bạn thế nào? Hãy nhấp vào một lựa chọn, nếu may mắn bạn sẽ được tặng 50.000 xu từ Lazi
| Vui | Buồn | Bình thường |