Đề số 08:
Đọc đoạn trích:
(1) Hồi ấy, cách đây hơn nửa thế kỷ, ở phố nhỏ và hẻo lánh Hội An, cha anh, không biết bằng một tài năng kì diệu đến chừng nào mà qua bao nhiêu xáo trộn của những chuyến tản cư, chạy giặc vất vả, hiểm nguy, khi trở về phố sau kháng chiến chống Pháp, vẫn giữ được cho gia đình một tủ sách đầy đặn, được coi là tài sản quý nhất trong nhà. Anh bảo ông cụ đọc sách, tất nhiên rồi, nhưng hình như cũng không nhiều lắm. Ông chăm lo tủ sách gia đình là để cho các con đọc, rồi sẽ đọc. Chính trong tủ sách ấy, một hôm, mới 12 tuổi, Bùi Văn Nam Sơn tò mò cầm đọc một cuốn sách của Nguyễn Đình Thi viết về triết học Decartes, và tuy chẳng hiểu gì cả, song vẫn giật mình ngạc nhiên một cách thích thú: hóa ra ở đời còn có một thế giới khác, gồm toàn những chuyện rắc rối, bí hiểm ở đâu đâu, mà trong sách lại chẳng thấy xuất hiện bóng dáng một nhân vật cụ thể nào cả!… “Cảm ơn tủ sách gia đình đã mở ra cho tuổi thơ tôi một chân trời khát vọng…”. Vậy đó, cuốn sách nhỏ trong tủ sách gia đình ngày ấy do cha anh bằng một sự dũng cảm văn hóa và đạo đức phi thường nâng niu gìn giữ được cho các con, đã đưa Bùi Văn Nam Sơn lên con đường dài của cuộc sống trí tuệ, để hơn 50 năm sau, trở thành nhà nghiên cứu triết học uyên thâm, người đầu tiên đã dịch ra tiếng Việt, và dịch một cách tuyệt vời, toàn bộ bộ “Phê Phán” nổi tiếng của Kant, một trong những bộ sách quan trọng nhất trong gia tài tri thức của toàn nhân loại cổ kim đông tây… Nhắc kỷ niệm xưa, rồi anh mỉm cười nhẹ nhàng và buồn rầu nói rằng bây giờ anh đến nhà nhiều quan chức và nhiều nhà giàu thấy nhà nào cũng có một tủ rượu rất sang, nhưng hầu như không nhà nào có tủ sách. Vậy đó, có một nền văn minh của những tủ sách gia đình, và nền văn minh ấy ngày nay chúng ta đã đánh mất! Tôi xin lỗi nếu có làm ai đó mất lòng, nhưng tôi muốn nói thật điều này: ngày nay chúng ta sống kém văn minh hơn nhiều so với cách đây 50 năm. Câu chuyện nhỏ của Bùi Văn Nam Sơn là một bằng chứng. Cũng cần nói thêm: trong các nước phát triển và đang phát triển hiện nay trên thế giới, có lẽ chúng ta thuộc nước đọc sách kém nhất. Chúng ta đã đánh mất thói quen đọc sách trong xã hội. Và đó là một trong những nguồn gốc của sự xuống cấp về đạo đức mà chúng ta lo lắng và đang cố đi tìm nguyên nhân cùng phương cách giải quyết. Nguyên nhân tất nhiên không trực tiếp và rõ ràng lắm đâu, nhưng rất sâu xa, hiểm nguy và lâu dài.
(2) Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ. […] Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và khi không còn nhu cầu đó nữa, thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện nghiêm túc, lâu dài và cần được trao đổi, thảo luận một cách cũng rất nghiêm túc, lâu dài. Tôi chỉ muốn thử nêu lên ở đây một đề nghị: Tôi đề nghị các tổ chức thanh niên của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường thấy hiện nay, nên có một cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận dộng từng nhà gây dựng tủ sách gia đình.
(3) Gần đây có một nước đã phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động mỗi người trong mỗi năm đọc lấy một cuốn sách. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không quá khó. Việc nhỏ đấy nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công cuộc lớn.
(Theo Nguyên Ngọc, Một đề nghị, tạp chí Điện tử Tiasang.com.vn,
ngày 19/7/2007)
Thực hiện các yêu cầu sau :
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên.
Câu 2: Trong đoạn văn thứ nhất, nhắc đến việc làm nào của người cha?
Câu 3. Xếp câu: “Cũng cần nói thêm: trong các nước phát triển và đang phát triển hiện nay trên thế giới, có lẽ chúng ta thuộc nước đọc sách kém nhất.” thuộc kiểu câu nào trong các kiểu câu: câu đơn, câu ghép chính phụ, câu ghép đẳng lập? Chỉ ra chủ ngữ, vị ngữ của các cụm chủ vị trong câu.
Câu 4. . Theo tác giả, “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa” và khi đó con người sẽ như thế nào?
Câu 5. Qua văn bản, em hãy rút ra cho bản thân một thông điệp ý nghĩa nhất.
Đề số 10:
Đọc đoạn trích:
Một đứa bé vào phòng tôi, giúp tôi sắp xếp đồ đạc. Thấy cái đồng hồ quả quýt út mặt xuống bàn, nó lật lại hộ. Thấy chén trà đặt phía sau quai ấm trà, nó chuyển đến trước vòi ấm. Thấy đôi giày dưới gầm giường một xuôi một ngược, nó đảo lại giúp. Thấy dây treo tranh trên tường buông thõng thò ra ngoài, nó bắc ghế trèo lên giấu vào trong hộ. Tôi cảm ơn: “Cháu chăm quá, toàn dọn dẹp hộ chú thôi!”.
Nó trả lời: “Không đâu, chẳng qua thấy chúng như thế, cháu cứ bứt rứt không yên!”.
Đúng vậy, nó từng nói: “Đồng hồ quả quýt út mặt xuống bàn, nó bực bội lắm đấy!”.
“Chén trà nấp sau lưng mẹ thì làm sao uống sữa được?”
“Giày chiếc xuôi trước ngược, làm sao chúng nói chuyện được với nhau?”
“Bím tóc của bức tranh thòng ra trước, trông như con ma vậy.”
Tôi phục sát đất tấm lòng đồng cảm phong phú của chú bé này. Từ đó tôi quả thực cũng để tâm tới vị trí của đồ vật, tạo điều kiện để chúng được dễ chịu. Vị trí đặt để chúng có dễ chịu, ta nhìn mới thấy thư thái. Bấy giờ tôi mới sực nhận ra đó là tâm cảnh trước cái đẹp, là thủ pháp thường dùng trong văn miêu tả, là vấn đề cấu trúc thường gặp trong hội họa. Những thứ đó đều được phát triển ra từ sự đồng cảm. Người bình thường chỉ có thể đồng cảm với đồng loại hoặc cùng lắm là với động vật mà thôi, còn nghệ sĩ lại có lòng đồng cảm bao la quảng đại như tấm lòng trời đất, trải khắp vạn vật có tình cũng như không có tình.
(Trích Yêu và đồng cảm, Phong Tử Khải, Sống đơn thuần, Tố Hinh dịch, NXB Hà Nội - Công ti Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội, 2020, tr.268)
Thực hiện yêu cầu sau :
Câu 1. Nêu các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên?
Câu 2. Đoạn trích bàn về vấn đề gi?
Câu 3. Em hãy nhận xét về vai trò của bằng chứng, lí lẽ mà tác giả trong việc thể hiện ý kiến của mình.
Câu 4. Tìm các kết từ dùng để nối các vế câu trong câu ghép dưới đây. Chỉ ra mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các vế câu.
“Người bình thường chỉ có thể đồng cảm với đồng loại hoặc cùng lắm là với động vật mà thôi, còn nghệ sĩ lại có lòng đồng cảm bao la quảng đại như tấm lòng trời đất, trải khắp vạn vật có tình cũng như không có tình.”
Câu 5. Em hãy chia sẻ lại một hành động của bản thân thể hiện sự đồng cảm với mọi người xung quanh.
Đề số 12: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi
Một chàng trai trẻ đến xin học một ông giáo già với tâm trạng bi quan và chỉ thích phàn nàn. Đối với anh, cuộc sống là một chuỗi ngày buồn chán, không có gì thú vị.
Một lần, khi chàng trai than phiền về việc mình học mãi mà không tiến bộ, người thầy im lặng lắng nghe rồi đưa cho anh một thìa muối thật đầy và một cốc nước nhỏ.
- Con cho thìa muối này vào cốc nước và uống thử đi.
Lập tức, chàng trai làm theo.
- Cốc nước mặn chát. Chàng trai trả lời.
Người thầy lại dẫn anh ra một hồ nước gần đó và đổ một thìa muối đầy xuống nước:
- Bây giờ con hãy nếm thử nước trong hồ đi.
- Nước trong hồ vẫn vậy thôi, thưa thầy. Nó chẳng hề mặn lên chút nào – Chàng trai nói khi múc một ít nước dưới hồ và nếm thử.
Người thầy chậm rãi nói:
- Con của ta, ai cũng có lúc gặp khó khăn trong cuộc sống. Và những khó khăn đó giống như thìa muối này đây, nhưng mỗi người hòa tan nó theo một cách khác nhau. Những người có tâm hồn rộng mở giống như một hồ nước thì nỗi buồn không làm họ mất đi niềm vui và sự yêu đời. Nhưng với những người tâm hồn chỉ nhỏ như một cốc nước, họ sẽ tự biến cuộc sống của mình trở thành đắng chát và chẳng bao giờ học được điều gì có ích.
(Theo “Câu chuyện về những hạt muối”- vietnamnet.vn, 17/06/2015)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của đoạn trích?
Câu 2 (0,5 điểm). Xét về mục đích nói, câu văn sau thuộc kiểu câu gì?
- Con cho thìa muối này vào cốc nước và uống thử đi.
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: “Những người có tâm hồn rộng mở giống như một hồ nước thì nỗi buồn không làm họ mất đi niềm vui và sự yêu đời”.
Câu 4 (1,0 điểm). Trong văn bản trên, người thầy có khuyên học trò của mình rằng: “Những người có tâm hồn rộng mở giống như một hồ nước thì nỗi buồn không làm họ mất đi niềm vui và sự yêu đời. Nhưng với những người tâm hồn chỉ nhỏ như một cốc nước, họ sẽ tự biến cuộc sống của mình trở thành đắng chát và chẳng bao giờ học được điều gì có ích.”
Em có đồng ý với ý kiến trên không? Vì sao?
Bằng cách nhấp vào Đăng nhập, bạn đồng ý Chính sách bảo mật và Điều khoản sử dụng của chúng tôi. Nếu đây không phải máy tính của bạn, để đảm bảo an toàn, hãy sử dụng Cửa sổ riêng tư (Tab ẩn danh) để đăng nhập (New Private Window / New Incognito Window).
ĐỀ SỐ 08
Câu 1. Luận đề của văn bản trên là sự suy giảm văn hóa đọc sách trong xã hội hiện nay và những hệ lụy của nó đối với đời sống tinh thần và đạo đức của con người. Tác giả đặt ra vấn đề về sự đánh mất "nền văn minh của những tủ sách gia đình" và kêu gọi khôi phục thói quen đọc sách.
Câu 2. Trong đoạn văn thứ nhất, người cha đã có hành động giữ gìn và bảo quản một tủ sách đầy đặn cho gia đình qua bao nhiêu xáo trộn của những chuyến tản cư, chạy giặc. Hành động này được tác giả đánh giá là "một sự dũng cảm văn hóa và đạo đức phi thường".
Câu 3. Câu: “Cũng cần nói thêm: trong các nước phát triển và đang phát triển hiện nay trên thế giới, có lẽ chúng ta thuộc nước đọc sách kém nhất.” thuộc kiểu câu câu đơn.
Câu 4. Theo tác giả, “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa”. Và khi đó, con người sẽ:
Câu 5. Thông điệp ý nghĩa nhất mà em rút ra được từ văn bản là vai trò vô cùng quan trọng của việc đọc sách đối với sự phát triển trí tuệ, đời sống tinh thần và đạo đức của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Việc duy trì và khôi phục thói quen đọc sách là cần thiết để nâng cao văn minh và đạo đức của cộng đồng. Em nhận thấy cần phải chủ động hơn trong việc đọc sách và khuyến khích những người xung quanh cùng đọc sách.
ĐỀ SỐ 10
Câu 1. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên là:
Câu 2. Đoạn trích bàn về vấn đề sự đồng cảm, đặc biệt là sự đồng cảm sâu sắc và rộng lớn của một tâm hồn nhạy cảm (đứa bé và người nghệ sĩ) đối với vạn vật, và mối liên hệ của nó với khả năng cảm thụ cái đẹp và sáng tạo nghệ thuật.
Câu 3. Tác giả đã sử dụng bằng chứng và lí lẽ một cách hiệu quả để thể hiện ý kiến của mình:
Việc kết hợp bằng chứng cụ thể và lí lẽ chặt chẽ đã giúp tác giả làm sáng tỏ ý kiến của mình về vai trò quan trọng của sự đồng cảm trong việc cảm nhận thế giới và sáng tạo nghệ thuật.
Câu 4. Các kết từ dùng để nối các vế câu trong câu ghép dưới đây:
“Người bình thường chỉ có thể đồng cảm với đồng loại hoặc cùng lắm là với động vật mà thôi, còn nghệ sĩ lại có lòng đồng cảm bao la quảng đại như tấm lòng trời đất, trải khắp vạn vật có tình cũng như không có tình.”
Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các vế câu:
Câu 5. Một hành động của bản thân thể hiện sự đồng cảm với mọi người xung quanh:
"Em nhớ có lần, trong lớp em có một bạn học sinh mới chuyển đến. Bạn ấy còn rụt rè, ít nói và chưa quen với các bạn trong lớp. Thấy vậy, em đã chủ động đến làm quen, trò chuyện và rủ bạn ấy tham gia vào các hoạt động nhóm của lớp. Em cố gắng tạo một không khí thoải mái, thân thiện để bạn ấy cảm thấy được chào đón và hòa nhập hơn. Em nghĩ rằng, việc đặt mình vào vị trí của bạn ấy, hiểu được cảm giác lạ lẫm và cô đơn khi mới đến một môi trường mới, đã giúp em có hành động quan tâm và chia sẻ như vậy."
ĐỀ SỐ 12
Câu 1. Ngôi kể của đoạn trích là ngôi thứ ba. (Người kể chuyện không tham gia vào câu chuyện, chỉ thuật lại hành động và lời nói của các nhân vật).
Câu 2. Xét về mục đích nói, câu văn sau thuộc kiểu câu câu cầu khiến (hoặc câu mệnh lệnh). (Câu này được dùng để ra lệnh, yêu cầu người khác thực hiện một hành động).
Câu 3. Hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: “Những người có tâm hồn rộng mở giống như một hồ nước thì nỗi buồn không làm họ mất đi niềm vui và sự yêu đời”.
Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu này là so sánh.
Câu 4. Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến của người thầy.
Lời khuyên của người thầy là một bài học sâu sắc về cách chúng ta nên nuôi dưỡng tâm hồn mình. Việc rèn luyện một tâm hồn rộng mở, lạc quan không chỉ giúp chúng ta đối diện tốt hơn với những khó khăn mà còn mang lại cho chúng ta một cuộc sống ý nghĩa và hạnh phúc hơn.
Hôm nay bạn thế nào? Hãy nhấp vào một lựa chọn, nếu may mắn bạn sẽ được tặng 50.000 xu từ Lazi
| Vui | Buồn | Bình thường |