Bạn cần đăng nhập mới có thể xem nội dung này
Tôi nghĩ rằng: Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy. Cho nên người dùng binh giỏi không lấy thắng nhỏ mà mừng, không lấy thua to mà sợ. Nay các ông chỉ có tàn tốt vài nghìn giữ một thành trơ trọi, lương sắp hết mà viện binh không thấy đến, dân chúng ngày một lìa, mà quân sĩ ngày một mòn, cái thế mạnh yếu được thua, có thể ngồi mà tính được. Huống hồ nước Nam ta binh voi thì nhiều, tâm lực đều nhau, vũ khí ngày càng tinh nhuệ, khí quân ngày càng hồ hởi, kẽ sĩ trí mưu, các tướng vũ dũng chẳng khác gì cây rừng, răng lược vậy. Các ông có thắng một trận nhỏ cũng không thấy là mạnh, mà ta dẫu có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu. Vừa qua, mấy người tì tướng của ta tuổi trẻ tính ngông, không theo ước thúc, khinh chiến để thất cơ, các ông lấy thế làm đắc chí. Nay đem những tướng hiệu ở các lộ Tân Bình, Thuận Hoá, Diễn Châu, Nghệ An và ở các cơ Tiền Vệ, Tam Giang, Xương Giang, Trấn Divà đem nhiều người bị các ông MẠN THUẬT(Bài 13)Quê cũ nhà ta thiếu của nào?
Rau trong nội, cá trong ao.
Cách song mai tỉnh hồnCô dịch,
Kề nước cầm đưa tiếngCửu cao.
Khách đến vườn còn hoa lác,
Thơ nên cửa thấy nguyệt vào.
Cảnh thanh dường ấy chăng về nghỉ,
Lẩn thẩn làm chi ángmận đào.(Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh, NXB Khoa học xã hội, 1976, tr. 407)Câu1.Bàithơnằm trong tập thơ nào sau đây củaNguyễn Trãi?Câu 2.Những câu thơ lục ngôn trong bài thơ là?Câu 3.Từ láy nào xuất hiện trong bài thơ?Câu4.Câu thơ nào dưới đây cho biết thời gian vào đêm?Câu5.Hai câu thơ:“Quê cũ nhà ta thiếu của nào?/Rau trong nội, cá trong ao”,cho biết tình cảm gì của nhân vật trữ tình với quê hương?Câu6.Hình ảnh“nguyệt”trong câu thơ “Thơ nên cửa thấy nguyệt vào”là hình ảnh hoán dụ để chỉ đối tượng nào?Câu 7.Bài thơ thể hiện khía cạnh nào trong tâm hồn Nguyễn Trãi?Câu 8.Nêu các đặc điểm về .. BẢO KÍNH CẢNH GIỚI(Bài 21)Ở bầu thì dáng ắt nên tròn,
Xấu tốt đều thì rắp khuôn.
Lân cận nhà giàu no bữa cám,
Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn.
Chơi cùng đứa dại nên bầy dại,
Kết mấy người khôn học nết khôn.
Ở đấng thấp thì nên đấng thấp,
Đen gần mực, đỏ gần son.(Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh, NXB Khoa học xã hội, 1976, tr. 445)Chú thích: (1) và (2): Hai câu này là do câu tục ngữ“ở gần nhà giàu đau răng ăn cốm, ở gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn”.Chữ“đau răng ăn cốm”là đúng chữ câu tục ngữ. Nhưng kẻ ở gần nhà giàu mà được ăn cốm nhiều thì cũng lạ. Chúng tôi cho rằng chính là cám nói chệch đi cho hợp với vần trộm ở câu dưới mà thành cốm… mà ở gần nhà giàu được no bữa cám thì nghĩa mới thông.Câu1.Bàithơđượcviếttheothểthơnào?Câu 2.Chủ đề của bài thơ là gì?Câu 3.Trong bài thơ, phép đối xuất hiện ở những cặp câu nào?Câu4.Cặp từ cặp từ trái nghĩa nào xuất hiện trong bài .. THỦ VĨ NGÂMGóc thành Nam, lều một gianNo nước uống, thiếu cơm ănCon đòi trốn, dườngai quyến
Bà ngựagầy, thiếu kẻ chănAo bởi hẹp hòi khôn thả cá
Nhà quen xú xứa, ngại nuôi vằn
Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải
Góc thành Nam, lều một gian(Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh, NXB Khoa học xã hội, 1976, tr. 395)Câu1.Bàithơđượcviếttheothểthơnào?Câu 2.Bài thơ viết về đề tài gì?Câu 3.Nhậnđịnh nàođúngvềnhânvậttrữtìnhtrongbàithơ?Câu4.Chủđềcủabài thơlà gì?Câu5.Tácgiảsử dụng cácbiệnpháptutừgìquahaicặpcâu3–4và5–6?Câu6.Tácgiả muốnnóiđếncuộcsốngnàoquatừ“lều một gian”?Câu 7.Nhận xét nàođúngvề nghệ thuật của bài thơ?Câu .. Buổi chiều rất êm ả. Về phía tây, mây trời rực rỡ những mầu sáng lạn và ánh nắng chiều loàng một khúc sông, trông như một giải vàng nổi lên giữa đồi ruộng đã bắt đầu tím lại. Một đàn chim đi ăn về vút bay qua ngang đầu, tiếng cánh vỗ rào rào như trận mưa; tôi ngửng lên nhìn theo đến khi cái vết đen linh động của đàn chim lặn hẳn với chân mây.Tôi theo con đường nhỏ ở ven đồi, qua hai dẫy phố, một cái chợ nhỏ, rồi rẽ về bên phải. Nhà ông Ba ở ngay chân đồi, trông xuống chợ, một cái nhà gạch cũ, tường phủ rêu xanh. Tôi không lưỡng lự, bước đến đẩy cổng vào. [...] Phố chợ ở ngay đầu cầu. Con sông Cống uốn éo trong dẫy đồi, khuất đi, rồi lại loáng loáng đằng xa, chạy giữa những giải ruộng eo hẹp. Bấy giờ sương đã xuống, dặng núi ở chân trời đã bị che lấp. Chúng tôi dạo qua một lượt ở phố, hay dẩy nhà lá nhỏ bé, nhưng ngăn nắp và sạch sẽ, trông rất vui mắt. Sẩm tối, ông Ba cùng tôi về, một mâm cỗ đầy đã thấy bầy trên chiếc bàn ở giữa sân, bà Ba đang chạy loăng quăng Xét trong đạo làm người, trọng thì không gì trọng bằng trung nghĩa, tôn thì không gì tôn bằng danh tiết. Ghét chết, chuộng sống, theo vinh tránh nhục, đó là thường tình của người ta. Tôi từ khi sinh ra tới nay, vẫn chuộng danh tiết, và trọng trung nghĩa, ghét tiểu nhân đến nỗi đi tới hoạ hoạn, thân dù ở trong bước gian hiểm mà chí binh sanh không kém bớt. Ngày đêm than thở, sống có người trên, ơn sánh trời cao để kêu oan. May nghe thấy đại nhân từ kinh sư mới tới, sẽ xét rõ nguyên nhân các tội trạng, có thể mong ngài mở cho con đường sống. Chúng tôi được biết, già trẻ đều mừng vui. Chỉ mong ngài cho làm chức gia nô, để khỏi bị quan huyện làm khổ. Vả lại người xưa có nói: Lấy thù trị thù, tai hoạ không dứt. Đỗ Phú cùng tôi vốn có thù cũ, lại được bổ làm tri huyện bản huyện, đó là cái cớ làm cho chúng tôi phải li tán. Nay thấy đại nhân, đức kịp tới cả côn trùng, ân kịp tới cả thảo mộc, khơi bùn quét bụi, thù dùng kẻ phản bạn, chiêu nạp kẻ lưu vong, có thể làm cho tôi đổi lỗi