BÌNH GIỮ NHIỆT CAO CẤP TOPGIA INOX 304, Dung Tích Lớn 500ML Thiết Kế Nắp Thông Minh Tiện Lợi Có Dây Xách Ly Giữ Nhiệt - ĐẠT QUY CHUẨN CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG(BGN)
BÌNH GIỮ NHIỆT CAO CẤP TOPGIA ...
119.000₫ 180.000₫
Bộ 4 bàn chải đánh răng Nhật lông tơ mềm mại, Bàn trải đánh răng Than tre hoạt tính lông mềm, chải siêu êm bảo vệ nướu
Bộ 4 bàn chải đánh răng Nhật ...
43.000₫ 80.000₫

Bài tậpBài chưa trả lời

Phân tích bài thơ Đất Vị Hoàng

phân tích bài thơ Đất Vị Hoàng của trần tế xương
3 Xem trả lời
Hỏi lại yêu cầu
1.840
Tham khảo câu trả lời từ Trợ lý ảo Lazi
Bài thơ "Đất Vị Hoàng" của Trần Tế Xương là một trong những tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII. Bài thơ này được viết dưới hình thức lục bát, gồm 8 câu với 6 chữ trong mỗi câu. Bài thơ mang tính chất tôn vinh đất nước và nhân dân Việt Nam.

Bài thơ bắt đầu bằng việc miêu tả vẻ đẹp của đất nước Việt Nam, từ cảnh quan thiên nhiên đến những công trình kiến trúc và văn hóa của dân tộc. Tác giả nhấn mạnh sự tuyệt vời của đất nước Việt Nam, từ sông núi, biển cả, đến những cánh đồng, đồng cỏ xanh tươi. Bên cạnh đó, tác giả cũng ca ngợi những công trình kiến trúc như cầu, chùa, đền, đài, tháp, tượng, đặc biệt là những công trình văn hóa như sách, bút, tranh, nhạc, điêu khắc.

Tác giả cũng nhắc đến những người dân Việt Nam, những người đã xây dựng và bảo vệ đất nước. Tác giả ca ngợi lòng yêu nước và lòng hiếu học của người dân Việt Nam, những người đã góp phần làm nên văn minh và sự phát triển của đất nước.

Bài thơ "Đất Vị Hoàng" của Trần Tế Xương là một tác phẩm ca ngợi đất nước và nhân dân Việt Nam, thể hiện lòng tự hào và tình yêu quê hương của tác giả. Bài thơ này cũng là một tác phẩm văn học có giá trị văn chương cao, mang tính chất lịch sử và văn hóa.
3 trả lời
3
0
Thần Thông Thái
08/12/2023 19:18:03

Trần Tế Xương là một nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, những áng thơ văn của ông không đơn thuần là để thỏa mãn tâm hồn thi nhân mà còn truyền tải đươc nhiều quan niệm, tư tưởng, cách đánh giá của cá nhân nhà thơ về thời đại mà mình sinh sống. Cái mới ở Trần Tế Xương, đó chính là ông không thể hiện những quan điểm ấy theo lối thơ văn thông thường mà ông thể hiện đặc sắc qua bút pháp trào phúng. Vì vậy mà đọc các trang thơ của Trần Tế Xương ta vừa bắt gặp cái đả kích châm biếm từ nhẹ nhàng đến mạnh mẽ sâu cay, cái được đả kích là những thói hư tât xấu, những tiêu cực, hạn chế trong xã hội đương thời. Đồng thời, thông qua các áng văn trào phúng ấy, tư tưởng, cảm xúc của nhà thơ lại được bộc lộ rõ nét hơn bao giờ hết, đó là thái độ bất bình, phẫn uất và cả sự xót xa, đau đớn trước nghịch cảnh thực tại. Tiêu biểu cho khuynh hướng thơ văn của Trần Tế Xương ta có thể kể đến bài thơ “Đất Vị Hoàng”.

Bài thơ “Đất vị Hoàng” là bài thơ được viết theo bút pháp trào phúng, qua đó tác giả Trần Tế Xương đã thể hiện thái độ phẫn uất, bất bình của mình trước những đổi thay của xã hội, sự đổi thay đó làm mất đi những thứ vốn có, đó là những giá trị, truyền thống tốt đẹp, thay vào đó là cái lối sống nửa tây nửa ta kệch cỡm, lố bịch, đáng lên án. Qua bài thơ ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy sự xót xa, đau đớn đọng lại trong từng câu, từng chữ, đó chính là sự đau xót của một con người đầy ý thức, không chấp nhận được sự đổi thay chóng vánh, tiêu cực của xã hội Việt Nam đương thời.

Hai câu đề của bài đã gợi ra hoàn cảnh đổi thay của vùng quê, đồng thời cũng gợi lên sự đổi thay trong xã hội:

“Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông”

Tác giả đã nói vùng quê Đất Vị Hoàng có rất nhiều thay đổi. Ngay ở câu đầu” Có đất nào như đất ấy không” . Đây là một câu hỏi tu từ, câu hỏi không đợi để trả lời . Phải chăng vùng quê của Tế Xương có thay đổi gì mà nhà thơ lại đau đáu, lại đớn đau vậy? Câu thơ thứ hai, tác giải đã thốt lên” Phố phường tiếp giáp với bờ sông” . Thì ra làng của Tú Xương ở nay đã trở thành một chốn phồn vinh đô thị nhưng tại sao nó lại khiến cho tác giả lại cảm thấy đau xót như thế. Câu hỏi tu từ gợi tả thái độ hoài nghi: Phải chăng sự đổi thay quá nhanh đã khiến cho mảnh đất chôn nhau cắt rốn của nhà thơ trở nên xa lạ, tạo ra cho con người một sự xa cách đến ngỡ ngàng. Sự lạ lẫm ở mảnh đất vốn thân quen, đó chính là sự xuất hiện của những phố phường, đây cũng là dấu hiệu của một cuộc sống mới, của nếp sống mới mà người Pháp đang xây dựng ở trong xã hội ta. Thay thế những mái nhà ngói xan xan, những mảnh vườn thưở ruộng cùng với khung cảnh lao động thường nhật thì phố phường xuất hiện làm thay đổi tất cả. Cảnh vật còn xót lại của làng quê, đó chính là dòng sông Vị Hoàng vẫn lặng lẽ chảy, chứng kiến mọi sự đổi thay. Cảnh vật thay đổi, lối sống mới xâm nhập làm đổi thay cuộc sống của con người nơi đây. Chính bởi là vì đất có phồn vinh thêm như đó lại không còn là của nhân dân nữa.

Sự đổi thay này dường như chính là nguyên nhân dẫn tới những đổi thay to lớn trong lề lối gia đình xã hội, điều này được Tú Xương khắc họa một cách đầy trào phúng trong hai câu thực:

“Nhà kia lỗi phép con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.”

Hiện thực đau đớn, xấu xa được Tế Xương phơi bày đến đau lòng. Cách dùng “nhà kia, mụ nọ” vừa ám chỉ vừa vạch mặt chỉ tên đầy khinh bỉ trước những cảnh đời xấu xa vô đạo. Có cảnh nhà "lỗi phép", con cái bất hiếu "Con khinh bố". Có cảnh đời, đảo điên tình nghĩa "chanh chua" như mụ nọ "Vợ chửi chồng". Có lẽ chỉ vì tiền mà đồi bại đến cùng cực thế! Hai mối quan hệ làm rường cột của đạo lí: tình phụ tử, nghĩa phu — thê đã trở nên nhem nhuốc vô cùng. Hỏng từ gia đình hỏng ra. Không còn là hiện tượng cá biệt nữa. Qua hai câu thực, ta có thể thấy mọi trật tự, mọi luân lí đều bị đảo ngược. Phải chăng khi lối sống mới được đưa vào thì mọi thứ đều bị đảo ngược, nếu con khinh cha mất đi cái nề nếp, gia giáo thì “vợ chửi chồng” lại là sự đổ vỡ của mô hình gia đình trong xã hội. Một gia đình không có sự kính trọng của con cái với bố mẹ, người vợ lấn quyền, chanh chua thì gia đình ấy cũng chỉ là tồn tại cưỡng ép trên hình thức mà thôi. Thật đáng buồn thay cái chữ hiếu được nhân dân dân ta coi là đạo lí ngàn đời nay. Vậy mà hỡi ôi sao lại có cảnh con cái dám chửi lai bố mẹ dám khinh thường bố mẹ. Câu thơ khiến ta như hiểu được một phần nào đó giá trị đạo đức chuẩn mực đạo đức khi đó đã không còn nữa. Đọc câu thơ của Trần tế Xương, ta nghe ý thơ như một lời của chính tác giả đang than thở cho một xã hội đã suy tàn đã trên bờ diệt vong.

Vẫn là giọng điệu châm biếm đả kích phũ phàng, Tế Xương đã khắc họa sự đổi thay to lớn trong xã hội, nơi mà con người hiện ra với đủ mọi tính cách xấu xa, bần tiện, hôi hám:

“ Keo cú người đâu như cứt sắt

Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng”

Một bức tranh biếm họa hoàn chỉnh. Ở cái đất Vị Hoàng thuở ấy nhan nhản những loại người “tham lam” và “keo cú”. “Keo cú” đến bần tiện, ghê tởm và hôi hám. Nhà thơ ngạc nhiên hỏi và so sánh: “người đâu như cứt sắt” sao mà đáng sợ, đáng khinh bỉ! Lại có loại người “tham lam” đến cùng cực, nhịp sống cuộc đời họ chỉ là chuyện thở rặt hơi đồng”. “Thở” là nhãn tự, rất linh diệu; nếu thay bằng chữ “nói” hay một từ nào khác thì không lột tả được bản chất loại người tham lam, đê tiện này. Vì đã “thở” phải đi liền với “hơi” – “hơi đồng”, tiền bạc. Những câu thơ khiến ta liên tưởng đến những câu thơ trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du: “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê!”. Chỉ vì tiền, coi tiền bạc là trên hết, là trước hết trong mọi mối quan hệ gia đình và xã hội. Ở hai câu luận này, tác giả đã sử dụng từ “rặt” là từ cổ, là nói cách dân gian, nghĩa là “toàn là”, “đều là”. Phép đảo ngữ ở từ “ keo cú, tham lam” lên đầu để nhấn mạnh, rất có giá trị thẩm mĩ, tạo nên ngữ điệu dữ dội, khinh bỉ, một tiếng chửi đời cay độc, lên án loại người tham lam, keo cú. Cùng với đó là hình ảnh so sánh, ẩn dụ để vạch trần nét tiêu cực tính cách con người trong thời đô thị hóa ở làng Vị Hoàng thời đó.

Hai câu kết của bài thơ là một câu hỏi không chỉ cho người dân đất Vị Hoàng mà câu hỏi cho người dân cả nước, đồng thời cũng chính là nỗi lòng của nhà thơ:

“Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?”

Cách dùng nghệ thuật mở đầu - kết thúc dưới hình thức câu hỏi tu từ nghẹn ngào cất lên như một lời đay nghiến, vừa xót xa đau đớn. Và câu hỏi này, tác giả Tế Xương đã thể hiện thái độ bất mãn, phẫn nộ trước cảnh tượng, lề lối đạo đức suy đồi, phép tắc gia đình đảo lộn, xã hội ngập tràn những xấu xa, bần tiện. Điều này không chỉ đả kích mạnh vào xã hội đương thời mà còn đồng thời thể hiện rõ nét nỗi lòng lo lắng cho quê hương của chính nhà thơ. Câu hỏi ấy, có lẽ Trần Tế Xương không chỉ dành riêng cho người dân làng quê Vị Hoàng mà đó là câu chuyện xã hội của cả đất nước. Chính hai câu thơ kết bài này đã nâng cao, mở rộng tầm tư tưởng tình cảm của bài thơ.

Bài "Đất Vị Hoàng" được viết theo thể thơ thất ngồn bát cú Đường luật, thủ vĩ ngâm. Câu 1 và câu 8 là câu hỏi tu từ "Có đất nào như đất ấy không?"', nhà thơ hỏi mà nghe đau đớn, xót xa . Bởi nơi chôn nhau cắt rốn thân thương nay đã thay đổi nhiều rồi, ngày ngày diễn ra bao cảnh đau lòng. Còn đâu nữa hình ảnh đẹp một thời, để tự hào và "nhớ": "Đất Vị Hoàng" là bài thơ trào phúng độc đáo của Tế Xương. Nhà thơ vừa đau xót, vừa khinh bỉ xã hội thối nát đạo đức bấy giờ. Đúng là Tú Xương "đã đi bằng hai chân" hiện thực trào phúng và trữ tình, tạo nên giọng điệu riêng hiếm thấy.

“Đất Vị Hoàng” là bài thơ viết bằng chữ Nôm, ngôn ngữ bình dị mà sắc sảo cùng với bút pháp điêu luyện mà tự nhiên, hồn nhiên. Tác giả đã phê phán xã hội đương thời nhiều suy thoái đạo đức, luân thường, đạo lí. Lời bài thơ đã tạo nên ấu ấn thơ Tế Xương – một nhà thơ trào phúng bậc của nước ta.

Có thể khẳng định rằng Đất Vị Hoàng là một bài thơ trào phúng đặc sắc, tiêu biểu của Trần Tế Xương. Bài thơ ngắn gọn với kết cấu đường luật chặt chẽ cùng bút pháp hiện thực đã giúp ta cảm thấy được những thay đổi tiêu cực của vùng đất Vị Hoàng, đồng thời cũng là sự thay đổi của xã hội, càng cho ta thêm cảm phục tấm lòng lo lắng cho quê hương, đất nước của chính nhà thơ.

Mở khóa để xem toàn bộ nội dung trả lời

(?)
Bạn đã đạt đến giới hạn của mình. Bằng cách Đăng ký tài khoản, bạn có thể xem toàn bộ nội dung trả lời
Cải thiện điểm số của bạn bằng cách đăng ký tài khoản Lazi.
Xem toàn bộ Trả lời và Chat với Trợ lý ảo Lazi AI bằng cách Đăng nhập tài khoản ngay bây giờ
Tôi đã có tài khoản? Đăng nhập
1
1
Mừng Chu
08/12/2023 19:19:57
Bài thơ "Đất Vị Hoàng" là một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Trần Tế Xương, người Việt Nam thế kỷ 19. Bài thơ được viết dưới hình thức lục bát, gồm 8 câu với tổng cộng 64 chữ.
 
Bài thơ "Đất Vị Hoàng" được xem là một tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của quê hương và tình yêu đất nước. Nhà thơ Trần Tế Xương đã sử dụng những hình ảnh tươi đẹp và mạnh mẽ để miêu tả vẻ đẹp của quê hương Việt Nam.
 
Bài thơ bắt đầu bằng câu "Đất Vị Hoàng, nước Vị Hoàng, non Vị Hoàng" để nhấn mạnh sự quan trọng của quê hương. Nhà thơ miêu tả vẻ đẹp của đất nước bằng những từ ngữ tươi sáng và màu sắc, như "non xanh biếc", "nước trong xanh", "đồng cỏ xanh mơn mởn". Đồng thời, nhà thơ cũng nhắc đến những cảnh đẹp tự nhiên như "cánh đồng hoa vàng", "sông nước mênh mông".
 
Bài thơ cũng thể hiện tình yêu và lòng tự hào dành cho quê hương. Nhà thơ viết "Đất Vị Hoàng, nước Vị Hoàng, non Vị Hoàng, ta yêu hết lòng" để thể hiện tình yêu và lòng trung thành của mình đối với quê hương. Bài thơ cũng nhấn mạnh tinh thần đoàn kết và sự gắn bó của người dân với quê hương, khi nhà thơ viết "Đất Vị Hoàng, nước Vị Hoàng, non Vị Hoàng, ta đoàn kết".
 
Tổng thể, bài thơ "Đất Vị Hoàng" của Trần Tế Xương là một tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của quê hương Việt Nam và tình yêu đất nước. Nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh tươi đẹp và mạnh mẽ để miêu tả vẻ đẹp của quê hương và thể hiện tình yêu và lòng tự hào dành cho quê hương.
0
0
KHẢI NGUYỄN ĐỨC
10/12/2023 12:48:11

Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương (1870-1907), sinh ra và lớn lên tại số nhà 247 phố Hàng Nâu thành phố Nam Định, ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam. Thơ của ông mọi người chú ý tới bởi sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố hiện thực, trào phúng và trữ tình. Trong tác phẩm của ông hầu hết nội dung đều nói về khoa cử, nho học và hình ảnh một nền nho học đang thoái hóa và cảnh nghèo khó của dân trong hoàn cảnh đất nước. Ngoài ra, ông còn nổi tiếng là thể loại trào phúng, châm biếm chế độ phong kiến mục nát, bọn thực dân Pháp tàn ác, quan lại, tay sai cho giặc. Ông luôn đứng về phía người dân nghèo. Những tác phẩm tiêu biểu: Vịnh khoa thi Hương, Giễu người thi đỗ, Ông cò, Phường nhơ, Thương vợ, Văn tế sống vợ,...Tiêu biểu cho thơ văn của Trần Tế Xương ta có thể kể đến bài thơ “Đất Vị Hoàng”.

Vị Hoàng là tên cũ của làng quê Tú Xương, đó cũng là tên dòng sông đào chảy qua làng. Sông Vị trước năm 1894 có vị trí đặc biệt với tỉnh Nam Định và cả vùng đồng bằng Bắc Bộ. Lúc chưa có cảng biển Hải Phòng, Nam Định là đầu mối giao thông lớn nhất nhì miền Bắc như giờ, họ không thể thiếu con sông Vị. Vì thế, đất Vị Hoàng vừa chỉ làng quê nhà thơ, vừa chỉ cả thành Nam, tỉnh Nam Định. Qua sự thay đổi làng quê của mình, tác giả cảm nhận được số phận chung của cả đất nước khi đó. “Đất vị Hoàng” là bài thơ được viết theo bút pháp trào phúng, qua đó thấy được nỗi đau xót phẫn uất, bất bình trước hoàn cảnh thay đổi của xã hội. Bài thơ đã phơi bày những thay đổi theo chiều hướng tiêu cực, suy thoái đạo đức xã hội một cách đầy đủ, đồng thời nhà thơ bộc lộ sự đau xót trước sự thay đổi đó.

Hai câu đề đã được Tú Xương gợi hoàn cảnh đã dẫn đến vùng quê Đất Vị Hoàng có nhiều thay đổi 

“Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông”

Làng quê xưa của Tú Xương sinh sống nay đã trở thành một chốn đô thị phồn vinh. Ngay câu thơ đầu tiên tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ“ Có đất nào như đất ấy không”, câu hỏi không đợi để trả lời, khiến độc giả phải tự đặt câu hỏi : Phải chăng sự thay đổi quá nhanh đã khiến cho mảnh đất chôn nhau cắt rốn trở nên xa lạ, tạo ra cho con người một sự xa cách đến bất ngờ. Bằng những câu thơ tả thực Tế Xương đã vẽ ra những gì mà tác giả chứng kiến có một thứ gì đó chua xót đọng lại trong tâm hồn của người và đáng thương thay vùng đất nơi mà quê hương của tác giả cũng là cách để nói lên thực trạng của đất nước Nam mình. Dùng câu hỏi tu từ để nổi bật sự ngỡ ngàng trước đổi thay, sự lạ lẫm ở mảnh đất vốn thân quen, đó chính là sự xuất hiện của những “phố phường tiếp giáp với bờ sông” Vị Hoàng, đây cũng là dấu hiệu của một cuộc sống mới, của một lối sống mới mà người Pháp đang xây dựng ở trong xã hội ta.

Nhà thơ khắc họa bức biếm họa nhị bình đăng đối, với bao vết ố, nét nhơ ghê tởm, đặc tả sự đồi bại về luân thường đạo lí được thể hiện qua hai đâu thực

“Nhà kia lỗi phép con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng."

Hiện thực xấu xa, đau lòng được Tế Xương phơi bày.. Cách dùng “nhà kia, mụ nọ ” vừa ám chỉ vừa vạch mặt chỉ tên đầy khinh bỉ trước những cảnh đời xấu xa vô đạo. Có cảnh nhà "lỗi phép": con cái bất hiếu "Con khinh bố" và cảnh mâu thuẫn giữa vợ chồng: ”vợ chửi chồng”. Có lẽ vì đồng tiền mà đồi bại đến cùng cực khiến hai mối quan hệ gia đình: tình phụ tử, nghĩa phu - thê đã trở nên nhem nhuốc vô cùng. Qua hai câu thơ của nhà thơ Trần Tế Xương ta có thể thấy xã hội đó đã để đồng tiền vượt lên trên tất cả các chuẩn mực đạo đức.       

Qua hai câu luận tác giả đã khắc họa sự thay đổi trong chính con người, nó hiện ra với đủ mọi tính cách xấu xa, bần tiện, hôi hám:

“ Keo cú người đâu như cứt sắt

Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng”

Với một lối viết mạnh rạn, và ngôn ngữ bình dị, ông đã tạo cho người đọc cái nhìn mới mẻ và có nhiều ý nghĩa về cuộc sống khi tại chính vùng đất nơi đây lại xuất hiện nhiều những sự việc lạ lùng và mang nhiều ý nghĩa đến như thế. Ở cái đất Vị Hoàng thuở ấy nhan nhải những loại người “keo cú” và “tham lam”, tồn tại những con người tham lam và có sự ích kỉ lớn. Hàm ý đầy khinh bỉ “cứt sắt” ví người keo kiệt, bủn xỉn hết mức. Hai câu thơ sử dụng phép đối “như cứt sắt” với “rặt hơi đồng” đã nhấn mạnh những thói hư, tật xấu của con người, qua đó thể hiện nỗi đau xót của Tú Xương, làm cho lời thơ thêm cân xứng, hài hòa. Tác giả sử dụng phép so sánh: “người đâu như cứt sắt” sao mà đáng sợ vậy ! Lại có loại người “tham lam” đến cùng cực như vậy, nhịp sống cuộc đời họ chỉ là chuyện tiêu cực xung quanh những thử bủn xỉn.  Đảo ngữ “keo cú”, “tham lam” lên đầu để nhấn mạnh, tạo nên nhịp điệu dữ dội, khinh bỉ, một tiếng chửi đời cay độc, lên án loại người tham lam, keo cú. Tình cảm quanh giữa con người với con người không còn là chút tình nghĩa và sự yêu thương nữa mà khô cứng như thép, vụ lợi lẫn nhau. Qua hai câu luận, Tế Xương đã vạch trần nét tiêu cực trong tính cách con người trong thời đô thị hóa ở làng Vị Hoàng thời đó .Trong xã hội đó con người chỉ biết đến lợi ích cho bản thân mình, con người sống với nhau bằng lí tính thì xã hội đang trên đà suy vong, bởi xét cho cùng cuộc sống như vậy có hơn cuộc sống của những con vật và có khả năng tuyệt chủng là bao? 

Mỗi độc giả có lẽ đọc đến hai câu thực cũng thấu hiểu về tình cảnh và nỗi lòng của nhà thơ:

“Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

 Có đất nào như đất ấy không?”

Tác giả đã sử dụng nghệ thuật mở đầu - kết thúc dưới hình thức câu hỏi tu từ nghẹn ngào cất lên như một lời đay nghiến, vừa xót xa đau đớn. Tác giả Tú Xương đã thể hiện thái độ bất mãn, phẫn nộ trước cảnh tượng, lề lối đạo đức suy đồi, phép tắc gia đình đảo lộn, xã hội ngập tràn những xấu xa, bần tiện. Câu hỏi “Có đất nào như đất ấy không ?” tác giả Tế Xương không dành riêng cho người dân làng quê Vị Hoàng, mà đó còn là câu chuyện xã hội của cả đất nước lúc bấy giờ. Chính hai câu thơ kết bài này đã mở rộng thêm tầm tư tưởng tình cảm của bài thơ.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngồn bát cú Đường luật. Với giọng điệu chủ đạo của bài thơ trào phúng này xuất phát từ cái gốc trữ tình, mang đến sự thấu cảm đau đớn, xót xa của tác giả đến với độc giả. Câu mở đầu và kết thúc đều  là câu hỏi tu từ “Có đất nào như đất ấy không?”, Tú Xương hỏi mà nghe chua xót đến chạnh lòng biết bao trước những cảnh xã hội thay đổi tiêu cực, còn đâu hình ảnh đẹp một thời, để người ta nhớ và tự hào như xưa. Bài thơ đã phê phán những thói hư tật xấu thối nát như tham lam, bất hiếu, keo kiệt.

Tú Xương kịch liệt lên án, tố cáo những thói hư tật xấu của con người lúc bấy giờ, phê phán những con người vì đồng tiền mà làm mất đi giá trị bản thân, giá trị đạo đức con người và xã hội. Thể hiện nỗi đau đớn trước hiện thực đất nước, đồng thời còn thể hiện lòng yêu nước thầm kín mà mãnh liệt của Tú Xương

Như vậy bài thơ “Đất Vị Hoàng” là một bài thơ trào phúng đặc sắc, tiêu biểu của Trần Tế Xương. Bài thơ vô cùng xuất sắc ngắn gọn với kết cấu đường luật chặt chẽ cùng bút pháp hiện thực đã giúp ta cảm thấy được những thay đổi tiêu cực của vùng đất Vị Hoàng, đồng thời giúp độc giả thấu hiểu được những điều đã xảy ra ở xã hội thời đó thật tiêu cực, càng cho ta thêm cảm phục tấm lòng lo lắng cho quê hương, đất nước của chính nhà thơ.

Bạn hỏi - Lazi trả lời

Bạn muốn biết điều gì?

GỬI CÂU HỎI
Câu hỏi mới nhất

Hôm nay bạn thế nào? Hãy nhấp vào một lựa chọn, nếu may mắn bạn sẽ được tặng 50.000 xu từ Lazi

Vui Buồn Bình thường
Combo 10 Đôi Vớ Tất Khử Mùi Kháng Khuẩn Cổ Ngắn Nam Nữ
Combo 10 Đôi Vớ Tất Khử Mùi Kháng Khuẩn Cổ Ngắn Nam Nữ
-50% 39.000₫ 78.000₫
Nước hoa ô tô khử mùi kháng khuẩn , Sáp thơm ô tô tinh dầu để xe hơi,Khử Mùi Hiệu Quả Có 6 Mùi Hương Phiên Bản Mới
Nước hoa ô tô khử mùi kháng khuẩn , Sáp thơm ô tô tinh dầu để xe hơi,Khử Mùi ...
-50% 15.000₫ 30.000₫
×
Mua sắm
+Gửi câu hỏi LAZI MALL
+500xu
×