Việt Nam đối mặt với dân số già Sau khi bắt đầu thời kỳ già hóa dân số vào năm 2011 với tỉ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên chiếm 9,9% Việt Nam sẽ trải qua giai đoạn dân số già từ 2026 - 2054 khi tỉ lệ người 65 tuổi trở lên chiếm từ 10 - 19,9%. Như vậy, như nhiều chuyên gia từng cảnh báo, VN chưa giàu nhưng dân số đã bắt đầu già hóa. Và từ 2054 - 2069, Việt Nam sẽ trải qua giai đoạn dân số rất già, khi người từ 65 tuổi trở lên chiếm 20 - 29,9%. VN cũng được xem là quốc gia có thời gian chuyển từ "già hóa dân số" sang "dân số già" vào nhóm nhanh trên thế giới, dự báo là 20 năm, trong khi Nhật Bản và Trung Quốc là 26 năm, Anh và Tây Ban Nha 45 năm...
Dân số già nhanh
Phát biểu tại hội thảo "Dân số và phát triển", được Tổng cục Dân số - kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) tổ chức ngày 24-12, ông Nguyễn Doãn Tú, tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - kế hoạch hóa gia đình, cho rằng một trong những chính sách để hạn chế tốc độ già hóa dân số là duy trì mức sinh thay thế. "Việt Nam đã duy trì được mức sinh thay thế, giữ được tổng tỉ suất sinh ở mức xung quanh 2 con/bà mẹ từ 2006 đến nay" - ông Tú chia sẻ.
Tuy nhiên, những chính sách để hỗ trợ thêm còn rất ít, thậm chí chưa có. "Hãy đặt mình vào vị trí của các công nhân, sinh con nhưng nhà trẻ, trường mẫu giáo... đều ít có hoặc chi phí cao, các gia đình trẻ ít dám sinh con. Ngay các gia đình ở thành thị, hai vợ chồng có công việc ổn định nhưng mức lương thông thường cũng rất khó khăn khi nuôi 2 con ăn học" - ông Tú bình luận.
Chính vì lý do này, dù đã có chính sách nhằm nâng mức sinh ở vùng có mức sinh thấp dưới mức sinh thay thế, đồng thời giảm mức sinh ở vùng có mức sinh cao, nhưng mức sinh được thông báo gần nhất ở TP.HCM ở mức trên 1,3 con/bà mẹ vẫn là mức sinh thấp nhất nước và còn có xu hướng giảm thêm.
"Kinh nghiệm ở Hàn Quốc và nhiều quốc gia cho thấy nếu mức sinh đã xuống thấp sẽ rất khó để tăng sinh trở lại. Khi mức sinh thấp, dân số càng già với tốc độ nhanh hơn" - ông Tú khuyến cáo.
Trong khi đó, theo ông Nguyễn Xuân Trường, vụ trưởng Vụ Cơ cấu và quy mô dân số (Tổng cục Dân số - kế hoạch hóa gia đình), đặc điểm của người cao tuổi ở Việt Nam là trên 70% phải tự lao động kiếm sống với sự hỗ trợ của con cháu, chỉ 25,5% sống bằng lương hưu và trợ cấp xã hội.
Con số này dự báo không có thay đổi nhiều trong thời gian tới. Trong năm 2020, Hà Nội chỉ mới có khoảng 40% người lao động tham gia bảo hiểm xã hội và theo mục tiêu đến năm 2021, 45% người lao động cả nước sẽ tham gia bảo hiểm xã hội. Khi bước vào thời kỳ dân số già, số người già tăng cao cùng với tỉ lệ người già không có lương hưu/trợ cấp cũng tăng theo vô hình trung sẽ là một gánh nặng về an sinh xã hội.
(Theo https://tuoitre.vn, 25/12/2020)
Câu 1. Thông tin chính mà văn bản muốn đưa đến cho người đọc là gì? Câu 2. Bài viết đã sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ nào?
Câu 3. Tại sao đoạn sapo: “Sau khi bắt đầu thời kỳ già hóa dân số vào năm 2011 với tỉ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên chiếm 9,9%, Việt Nam sẽ trải qua giai đoạn dân số già từ 2026 - 2054 khi tỉ lệ người 65 tuổi trở lên chiếm từ 10 - 19,9%” chỉ nói tới năm 2011 (đã qua) và khoảng năm 2026 – 2054 (chưa tới) mà không nói tới thời gian thực tại?
Câu 4. Nhận xét mạch triển khai thông tin của văn bản.
Câu 5. Từ văn bản trên, em hãy nêu một số tác hại khi dân số già.
Bằng cách nhấp vào Đăng nhập, bạn đồng ý Chính sách bảo mật và Điều khoản sử dụng của chúng tôi. Nếu đây không phải máy tính của bạn, để đảm bảo an toàn, hãy sử dụng Cửa sổ riêng tư (Tab ẩn danh) để đăng nhập (New Private Window / New Incognito Window).
Câu 1. Thông tin chính mà văn bản muốn đưa đến cho người đọc là Việt Nam đang đối mặt với quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, với những dự báo về các giai đoạn dân số già và rất già trong tương lai gần, cùng với những thách thức về kinh tế và an sinh xã hội đi kèm.
Câu 2. Bài viết không sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ (như hình ảnh, biểu đồ, sơ đồ). Toàn bộ thông tin được truyền tải bằng ngôn ngữ viết.
Câu 3. Đoạn sapo tập trung vào việc thiết lập bối cảnh và dự báo về tương lai. Việc đề cập đến năm 2011 là để xác định thời điểm Việt Nam bắt đầu giai đoạn già hóa dân số. Khoảng thời gian 2026 - 2054 được nêu ra để chỉ ra giai đoạn dân số già sắp tới. Việc không nói đến thời điểm thực tại (năm 2020, thời điểm bài báo được viết) có thể là do tác giả muốn nhấn mạnh vào quá trình chuyển đổi đã bắt đầu và giai đoạn quan trọng sắp diễn ra, thay vì tập trung vào tình hình hiện tại vốn là sự tiếp nối của năm 2011 và tiền đề cho giai đoạn 2026-2054.
Câu 4. Mạch triển khai thông tin của văn bản khá rõ ràng và logic:
Mở đầu: Giới thiệu vấn đề chính: Việt Nam đối mặt với dân số già và tốc độ già hóa nhanh chóng so với các quốc gia khác.
Phân tích nguyên nhân và thực trạng: Đưa ra nhận định của chuyên gia về việc Việt Nam chưa giàu đã già, các chính sách duy trì mức sinh thay thế, những khó khăn trong việc tăng mức sinh, và tình hình mức sinh thấp ở các thành phố lớn.
So sánh và cảnh báo: So sánh kinh nghiệm của Hàn Quốc và các quốc gia khác về việc khó khăn trong tăng sinh trở lại khi mức sinh đã xuống thấp, dẫn đến dân số già hóa nhanh hơn.
Phân tích hệ quả: Mô tả đặc điểm của người cao tuổi ở Việt Nam (tỉ lệ tự lao động cao, tỉ lệ hưởng lương hưu thấp) và dự báo về gánh nặng an sinh xã hội trong tương lai khi số lượng người già tăng cao.
Kết luận (ngầm): Nhấn mạnh tính cấp thiết của việc có các chính sách hỗ trợ phù hợp để ứng phó với quá trình già hóa dân số.
Câu 5. Một số tác hại khi dân số già được nêu ra trong văn bản:
Gánh nặng kinh tế: Tỉ lệ người cao tuổi tự lao động kiếm sống cao cho thấy sự thiếu hụt về nguồn lực hỗ trợ và có thể gây ra khó khăn cho chính người già và gia đình họ.
Gánh nặng an sinh xã hội: Khi số lượng người già tăng lên mà tỉ lệ người có lương hưu và trợ cấp xã hội thấp, sẽ tạo ra áp lực lớn lên hệ thống an sinh xã hội của quốc gia.
Thiếu hụt lực lượng lao động trẻ: Quá trình già hóa dân số có thể dẫn đến sự thiếu hụt lực lượng lao động trẻ, ảnh hưởng đến năng suất và sự phát triển kinh tế.
Tăng chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe: Người già thường có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao hơn, làm tăng chi phí cho hệ thống y tế.
Ảnh hưởng đến mức sống của người dân: Nếu không có sự chuẩn bị tốt, người già có thể gặp khó khăn trong cuộc sống, và con cháu họ cũng có thể chịu áp lực kinh tế lớn hơn.
Mở khóa để xem toàn bộ nội dung trả lời
(?)
Bạn đã đạt đến giới hạn của mình. Bằng cách Đăng ký tài khoản, bạn có thể xem toàn bộ nội dung trả lời
Cải thiện điểm số của bạn bằng cách đăng ký tài khoản Lazi. Xem toàn bộ Trả lời và Chat với Trợ lý ảo Lazi AI bằng cách Đăng nhập tài khoản ngay bây giờ
Câu 1. Thông tin chính mà văn bản muốn đưa đến cho người đọc là Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh chóng, nhanh hơn nhiều quốc gia khác trên thế giới, và những thách thức lớn về kinh tế, xã hội, đặc biệt là an sinh xã hội, khi số lượng người cao tuổi tăng cao mà tỉ lệ người có lương hưu và trợ cấp còn thấp. Câu 2. Bài viết đã sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ là số liệu thống kê và tỷ lệ phần trăm để minh họa và làm rõ mức độ già hóa dân số và các vấn đề liên quan (ví dụ: tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên, tổng tỷ suất sinh, tỷ lệ người cao tuổi tự lao động, tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội). Câu 3. Đoạn sapo tập trung vào việc thiết lập bối cảnh và dự báo về tương lai của quá trình già hóa dân số ở Việt Nam. Việc đề cập đến năm 2011 (thời điểm bắt đầu giai đoạn già hóa) và khoảng thời gian 2026-2054 (giai đoạn dân số già) nhằm vẽ ra một bức tranh về sự thay đổi theo thời gian và nhấn mạnh tốc độ chuyển đổi nhanh chóng. Thời điểm hiện tại (năm 2020 khi bài báo được đăng) nằm giữa hai mốc này và đang trong giai đoạn "già hóa dân số", chưa đạt đến ngưỡng "dân số già" được dự báo từ năm 2026. Do đó, sapo tập trung vào điểm khởi đầu và giai đoạn quan trọng sắp tới để cảnh báo về xu hướng này.
Câu 1: Thông tin chính mà văn bản muốn đưa đến cho người đọc là thực trạng Việt Nam đang đối mặt với quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, những thách thức và gánh nặng tiềm ẩn về kinh tế và an sinh xã hội.
Câu 2: Bài viết đã sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ là dấu gạch ngang (-) để nối các số liệu và khoảng thời gian, làm rõ thông tin về tỷ lệ và giai đoạn già hóa dân số.
Câu 3: Đoạn sapo tập trung vào việc xác định các mốc thời gian quan trọng trong quá trình già hóa dân số của Việt Nam. Năm 2011 đánh dấu sự khởi đầu của giai đoạn "già hóa dân số", còn khoảng thời gian 2026 - 2054 được dự báo là giai đoạn "dân số già". Việc không đề cập đến thời điểm hiện tại (2020, thời điểm bài viết) nhằm nhấn mạnh sự chuyển đổi đã bắt đầu và giai đoạn quan trọng sắp tới, đồng thời cho thấy tốc độ nhanh chóng của quá trình này so với các quốc gia khác.
Câu 4: Mạch triển khai thông tin của văn bản đi theo trình tự:
Mở đầu: Giới thiệu thực trạng và tốc độ già hóa dân số nhanh chóng của Việt Nam.
Phân tích nguyên nhân: Đề cập đến chính sách duy trì mức sinh thay thế nhưng thiếu các chính sách hỗ trợ sinh con, đặc biệt ở khu vực thành thị.
So sánh: Đối chiếu với kinh nghiệm của Hàn Quốc và các quốc gia khác về khó khăn trong việc tăng tỷ lệ sinh khi đã xuống thấp.
Hậu quả/Thách thức: Chỉ ra đặc điểm của người cao tuổi ở Việt Nam (tỷ lệ tự lao động cao, tỷ lệ hưởng lương hưu thấp) và dự báo về gánh nặng an sinh xã hội trong tương lai.
Kết luận: Nhấn mạnh nguy cơ tiềm ẩn khi dân số già nhanh chóng.
Câu 5: Một số tác hại khi dân số già:
Gánh nặng an sinh xã hội tăng: Số lượng người cao tuổi cần trợ cấp, chăm sóc y tế tăng, trong khi lực lượng lao động đóng góp giảm.
Thiếu hụt lực lượng lao động: Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động giảm, ảnh hưởng đến năng suất và tăng trưởng kinh tế.
Tăng chi phí y tế: Người cao tuổi có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao hơn, gây áp lực lên hệ thống y tế.
Giảm sức mua và tiêu dùng: Tỷ lệ người không còn thu nhập hoặc thu nhập thấp tăng, ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ.
Chậm đổi mới và phát triển: Lực lượng lao động trẻ, năng động và sáng tạo giảm.
Thay đổi cơ cấu gia đình và xã hội: Tăng số lượng gia đình hạt nhân và người cao tuổi sống một mình, gây ra những vấn đề về chăm sóc và tinh thần.