Bài tập  /  Bài đang cần trả lời

Soạn bài nhân vật giao tiếp

3 trả lời
Hỏi chi tiết
542
0
0
Nguyễn Thị Thương
01/08/2017 02:33:42
Soạn bài nhân vật giao tiếp
Câu 1.
a. Trong hoạt động giao tiếp trên, các nhân vật giao tiếp đều đang ở lứa tuổi thanh niên. Tràng là nam còn cô gái nhặt thóc ở kho là nữ và đều là những người lao động nghèo khổ.
b. Các nhân vật luân phiên lượt lời theo trình tự, người nói là Tràng – người nghe là các cô gái; người nói là các cô gái – người nghe là thị; người nói là thị - người nghe là các cô gái và Tràng… Lượt thoại đầu tiên của nhân vật thị hướng đến hai đối tượng.
c. Các nhân vật giao tiếp đều bình đẳng về vị thế xã hội.
d. Lúc đầu quan hệ còn xa lạ nhưng sau đó họ nhanh chóng trở nên thân tình vì cùng lứa tuổi, cùng vị thế xã hội.
e. Những đặc điểm của nhân vật giao tiếp đã chi phối đến lời nói và dùng những từ xưng hô thân mật thậm chí suồng sã, câu tình lược thành phần nhờ có những điệu bộ, cử chỉ hỗ trợ cho lời nói: cười như nắc nẻ, cong cớn, liếc mắt cười tít…
Câu 2.
a. Trong đoạn trích trên có những nhân vật giao tiếp là:
- Bá Kiến
- Mấy bà vợ bá Kiến
- Bọn người làng
- Chí Phèo
- Lí Cường
Bá Kiến nói với một người nghe là: Chí Phèo, lí Cường; nói với nhiều người nghe là: mấy bà vợ, dân làng.
b. Vị thế của bá Kiến so với mấy bà vợ và lí Cường là người chồng, người cha nên cách tỏ rõ uy quyền của người bề trên và dùng câu mệnh lệnh.
Vị thế của bá Kiến so với dân làng trong đó có Chí Phèo là người có quyền thế nên cách nói có vẻ nhã nhặn nhưng vẫn tỏ vẻ quyền uy.
c. Sau khi ở tù về, Chí Phèo đến nhà bá Kiến với ý định trả thù. Bá Kiến đi vắng nên xảy ra xô xát với lí Cường, vừa lúc đó thì bá Kiến về. Nhìn qua một lượt, bá Kiến hiểu rõ cơ sự liền tung ta chiến lược đẹp yên sự vụ có thể gieo tai họa lên gia đình hắn. Trong những lời thoại trên bá Kiến sắp xếp lần lượt các lời thoại để tấn công hạ gục Chí Phèo.
- Bá Kiến tìm cách đuổi hết mọi người vừa để tránh to chuyện vừa cô lập Chí Phèo. Chí Phèo cảm thấy đơn độc, nhuệ khí tan dần theo hơi rượu.
- Bá Kiến đã vuốt giận Chí Phèo bằng lời lẽ ngọt ngào và cách xưng hô tâng bốc: Anh Chí ơi! Rồi thân mật: cái anh này, tiếp đến là cách xưng hô như người trong nhà với ngôi thứ nhất số nhiều: ta (để phân biệt với người ngoài). Bên cạnh cách xưng hô là những lời nói nhẹ nhàng, khích lệ, động viên và hành động như người quen thân lâu ngày mới gặp.
- Để Chí Phèo không xem là đối địch, bá Kiến đã nhận Chí Phèo là người nhà, là họ hàng. Cách nâng vị thế giao tiếp làm cho Chí Phèo hãnh diện vì được ngang hàng với gia đình danh giá nhất làng, chắng mấy chốc hắn quên mất ý định ban đầu.
- Đòn cuối cùng bá Kiến mắng lí Cường với giọng đắc thắng là để tôn Chí Phèo và Bá Kiến đã được mục đích dập tắt ngọn lửa căm thù trong lòng Chí Phèo, bóp chết ý định trả thù của Chí trong trứng nước.
d. Với chiến lược giao tiếp như trên, bá Kiến đã đạt được mục đích biến thù thành bạn. Những người nghe trong cuộc hội thoại với bá Kiến đều nhất mực phục tùng. Chí Phèo có phản ứng một lời nhưng chỉ là lời vớt vát thể diện: Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi. Nhưng tao mà chết thì có thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng.
Câu 3. Hai nhân vật giap tiếp là anh Mịch, một người nông dân là lí trưởng, kẻ chức sắc có quyền thế trong làng.
Vị thế xã hội ấy đã chi phối đến các lời thoại trong cuộc hội thoại. Anh Mịch thì van xin, cầu cạnh: lạy ông, xưng hô con. Còn lí trưởng hách dịch hăm dọa: kệ mày và xưng hô là tao.
Câu 4.
- Viên đội sếp Tây: vị thế xã hội là người có quyền thế, nghề nghiệp cảnh sát, giới tính là nam, văn hóa kém cỏi vì lời thoại vừa hống hách vừa có thái độ phân biệt chủng tộc.
- Nhân vật đám đông: vị thế xã hội thấp, văn hóa cũng thấp nên lời thoại mang tình hiếu kì.
- Chú bé con còn ngây thơ nên chỉ chú ý chi tiết lạ mắt của viên Toàn quền và chỉ nhìn đối tượng ở bên ngoài.
- Chị con gái, tuổi hồn nhiên, thích làm đẹp nên chỉ quan tâm đến trang phục.
- Anh sinh viên là người có trình độ văn hóa, quan tâm đến hoạt động xã hội và chính trị nên nghĩ đến việc làm của viên Toàn quyền.
- Bác cu-li xe vất vả với nghề nghiệp của mình, văn hóa còn thấp nên nhìn đối tượng có liên quan đến chuyện miếng cơm manh áo của mình.
- Nhà nho học vấn uyên thâm nên có cái nhìn sâu sắc: nhìn bên ngoài có thể đánh giá bản chất bên trong của đối tượng.
Nhận xét chung: Lời thoại của nhân vật giao tiếp thường phản ánh trình độ học vấn, văn hóa, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp của nhân vật đó.
Câu 5.
a. Bà lão hàng xóm và chị Dậu có vị thế xã hội ngang nhau: đều là người nông dân nghèo khổ và có quan hệ tình cảm xóm giềng, “tối lửa tắt đèn có nhau”. Điều đó đã chi phối đến lời thoại của các nhân vật qua cách dùng từ xưng hô: bác trai, cụ; từ gọi đáp: vâng và nội dung lời nói thể hiện sự quan tâm chia sẻ, góp ý… thái độ lo lắng, vâng lời.
b. Sự tương tác về hành động ngôn ngữ giữa các lượt lời:
- Hỏi thăm – cảm ơn
- Đề nghị - lĩnh hội
- Đề nghị - (đồng ý)
- Đoạn hội thoại cho thấy cách ứng xử của hai nhân vật thân mật nhưng không suồng sã vì tình chất quan trọng của nội dung đề tài. Văn hóa ứng xử ấy rất đẹp, đáng trân trọng. Họ là những người nông dân giàu tình cảm và trách nhiệm.
Câu 6. (Nâng cao)
a. Trong đoạn đối thoại trên, người điều khiển là một ông đàn anh, một chức sắc trong làng.
b. Ông đàn anh có giọng ra lệnh cho thấy vị thế xã hội là kẻ bề trên trong làng còn anh mõ làng trong lời nói vừa bẩm vừa dạ vừa thưa cho thấy vị thế xã hội trong quan hệ giao tiếp rất thấp.
Câu 7. Trong cảnh cho chữ, khi cho chữ xong, Huấn Cao đỡ viên quản ngục đứng dậy và khuyên quản ngục bỏ nghề.
Quản ngục vái Huấn Cao và nói rằng: Kẻ mê muội này xin bái lĩnh.
Huấn Cao có cử chỉ rất ân cần, nâng đỡ, chăm sóc còn lời lẽ điềm đạm, trang trọng, chân thành. Trong khi cử chỉ của viên quản ngục thì khúm núm phục tùng, hạ mình trước Huấn Cao; lời nói xúc động biết ơn. Sự khác biệt đó cho thấy quan hệ giữa hai người không phải là quan hệ xã hội mà quan hệ trước cái đẹp của nhân cách và tài năng. Cái tài lớn hơn thì ở vị thế cao hơn.
Câu 8. Thái độ của chị Dậu thay đổi rất rõ ràng qua ba lời nói. Ở lời thứ nhất chị nhún mình van xin trước bọn cai lệ - đại diện cho bọn cường hào quyền thế trong làng. Cách xưng hô khiêm nhường, nhã nhặn: cháu – ông. Nhưng bọn cai lệ không những không nghe mà còn ức hiếp, ngang tàng. Bất bình trước sự thô bạo, vô nhân đạo của bọn cai lệ, chị Dậu uất ức vùng lên đặt mình vị thế ngang hàng với chúng qua cách xưng hôi tôi – ông và lời lẽ không còn van xi mà là lời khuyến cáo nhân danh quyền con người. Thế nhưng bọn cai lệ vẫn liều mạng, chị Dậu không thể kìm chế được nữa, bất khuất vùng lên với tư thế hùng dũng và vị thế cao hơn hẳn, sẵn sàng nghiền nát đối thủ qua cách xưng hô bà – mày.

Mở khóa để xem toàn bộ nội dung trả lời

(?)
Bạn đã đạt đến giới hạn của mình. Bằng cách Đăng ký tài khoản, bạn có thể xem toàn bộ nội dung trả lời
Cải thiện điểm số của bạn bằng cách đăng ký tài khoản Lazi.
Xem toàn bộ các câu trả lời, chat trực tiếp 1:1 với đội ngũ Gia sư Lazi bằng cách Đăng nhập tài khoản ngay bây giờ
Tôi đã có tài khoản? Đăng nhập
0
0
Đặng Bảo Trâm
05/04/2018 17:08:15

Soạn bài: Nhân vật giao tiếp

Câu 1 (trang 18 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

a, Đặc điểm của các nhân vật giao tiếp:

   - Về lứa tuổi: cùng độ tuổi với nhau (thanh niên).

   - Về giới tính: khác nhau.

   - Về tầng lớp xã hội: đều là những người nông dân – những người làm thuê, cùng tầng lớp dưới của xã hội đương thời.

b,

   - Các nhân vật giao tiếp thường xuyên chuyển đổi vai nói và vai nghe, nghĩa là có sự luân phiên lượt lời: mấy cô gái chờ việc - thị - Tràng - thị.

   - Lượt đầu tiên của nhân vật thị hướng đến hai đối tượng. Lượt lời này gồm hai câu:

      + Câu thứ nhất nói với mấy cô bạn: “Có khối cơm trắng mấy giò đấy”.

      + Câu thứ hai hướng đến nhân vật Tràng: “Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy”.

c, Các nhân vật giao tiếp trên bình đẳng về vị thế xã hội cùng độ tuổi, cùng tầng lớp xã hội).

d, Các nhân vật giao tiếp khi bắt đầu cuộc giao tiếp có quan hệ xa lạ với nhau.

   - Sự chi phối lời nói nhân vật của các đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,...

   - Có vị thế xã hội bình đẳng, gần gũi nhau về độ tuổi nên các nhân vật nói năng suồng sã, vừa nói vừa cười như nắc nẻ...

   - Do sự khác nhau về giới tính nên các cô gái gọi nhân vật Tràng là “anh”.

   - Do xa lạ với nhau nên các nhân vật giao tiếp ít dùng các đại từ nhân xưng.

Câu 2 (trang 19 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

a,

   - Trong đoạn trích đã cho, có các nhân vật giao tiếp: bá Kiến, Chí Phèo.

   - Những trường hợp bá Kiến nói với một người nghe:

      + Lượt lời 3 đến lượt lời 8, bá Kiến nói với một người nghe (Chí Phèo).

   - Những trường hợp bá Kiến nói với nhiều người nghe:

      + Lượt lời 1 và 2, bá Kiến nói với nhiều người nghe (các bà vợ của hắn, dân làng).

      + Lượt lời thứ 9, hắn nói với hai người nghe (Chí Phèo và Lí Cường).

b,Vị thế xã hội của bá Kiến với từng người nghe:

   - Với mấy bà vợ - bá Kiến là chồng (chủ gia đình) nên quát.

   - Với dân làng: hắn là một người có uy hơn, là “cụ bá” nhưng trong đám ấy, độ tuổi không đều, có người nhỏ tuổi, cũng có người già cả. Bởi vậy, hắn nói “dịu giọng hơn một chút” nhưng thực chất là đuổi: “Về đi thôi chứ!Có gì mà xúm lại như thế này?

   - Với Chí Phèo - bá Kiến vừa là ông chủ cũ, vừa là kẻ đẩy Chí Phèo vào tù, kẻ mà lúc này Chí Phèo đến “ăn vạ”. Bá Kiến vừa thăm dò, vừa dỗ dành, vừa đề cao, coi trọng.

   - Với Lí Cường - Bá kiến là cha, cụ quát con nhưng thực chất để xoa dịu Chí Phèo.

c, Đối với Chí Phèo, bá Kiến đã thực hiện hành vi giao tiếp như sau:

   - Bá Kiến tìm cách đuổi hết mọi người về, để đối thoại riêng với Chí Phèo.

   - Dùng lới nói ngon ngọt, nhỏ nhẹ để hỏi han Chí Phèo.

   - Nâng vị thế Chí Phèo lên ngang hàng với mình, tỏ ý coi trọng Chí, coi Chí như bạn bè.

   - Bá Kiến kết tội lí Cường và yêu cầu lí Cường phải tiếp đón Chí Phèo, khiến Chí tưởng bá Kiến vì trọng mình mà mắng con cái, thậm chí bắt con tiếp đón mình.

d, Với chiến lược giao tiếp như vậy, bá Kiến đã đạt được mục đích giao tiếp, hiệu quả giao tiếp rất tốt. Những người nghe trong cuộc hội thoại với bá Kiến đều răm rắp nghe theo lời bá Kiến. Đến một kẻ hung hãn như Chí Phèo mà cuối cùng cũng bị khuất phục.

Luyện tập

Câu 1 (trang 21 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

   Trong đoạn trích có hai nhân vật giao tiếp là anh Mịch và ông lí. Ông lí là người đứng đầu một làng trong xã hội phong kiến xưa và rất có quyền thế. Còn anh Mịch chỉ là một nông dân nghèo hèn, bị coi rẻ. Vị thế xã hội ấy đã chi phối sâu sắc đến việc giao tiếp của các nhân vật trong đoạn trích trên.

   - Anh Mịch: điệu bộ đáng thương, tội nghiệp, xưng hô “ông – con”, cách dùng từ cũng tỏ ý hạ mình: “lạy” (được dùng đến 4 lần).

   - Ông lí trưởng điệu bộ hách dịch, lạnh lùng, tàn nhẫn: “cau mặt, lắc đầu, roi... dậm dọa”; xưng hô bỗ bã “tao – mày”, câu nói cộc lốc, cụt ngủn, vô tình: “kệ mày”, “không được à?”, “mặc kệ chúng bay”...

Câu 2 (trang 21 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

   Đoạn trích gồm các nhân vật giao tiếp:

   - Viên đội xếp Tây.

   - Đám đông.

   - Quan Toàn quyền Pháp.

   Mối quan hệ gữa đặc điểm về vị thế xã hội, nghề nghiệp, giới tính, văn hóa,... của các nhân vật giao tiếp với đặc điểm trong lời nói của từng người.

   - Chú bé: trẻ con nên chú ý đến cái mũ, lời nói rất ngộ nghĩnh.

   - Chị con gái: phụ nữ nên chú ý đến cách ăn mặc (cái áo dài) khen với vẻ thích thú.

   - Anh sinh viên: đang học nên chú ý đến diễn thuyết, nói như một dự đoán chắc chắn.

   - Bác cu li xe: chú ý đôi ủng.

   - Nhà nho: dân lao động nên chú ý đến tướng mạo, nói bằng một câu thành ngữ thâm nho.

Câu 3 (trang 22 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

a, Quan hệ giữa bà lão hàng xóm và chị dậu là quan hệ hàng xóm láng giềng thân tình. Điều đó chi phối cách nói và cách nói của hai người – thân mật.

   - Bà lão: bác trai, anh ấy,...

   - Chị Dậu: cám ơn, nhà cháu, cụ,...

b, Sự tương tác về hành động nói giữa lượt lời của hai nhân vật giao tiếp: Hai nhân vật đổi vai luân phiên nhau.

c, Nét văn hóa đáng trân trọng qua lời nói, cách nói của các nhân vật: tình làng nghĩa xóm, bản chất đáng quý, đáng trọng của những người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945.

0
0
Đặng Bảo Trâm
05/04/2018 17:08:16

Soạn bài: Nhân vật giao tiếp

Câu 1:

a. Hoạt động giao tiếp trên có những nhân vật giao tiếp là: Tràng, mấy cô gái và "thị". Những nhân vật đó có đặc điểm:

– Về lứa tuổi: Họ đều là những người trẻ tuổi.

– Về giới tính: Tràng là nam, còn lại là nữ.

– Về tầng lớp xã hội: Họ đều là những người dân lao động nghèo đói.

b. Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói, vai người nghe và luân phiên lượt lời như sau:

Soạn bài: Nhân vật giao tiếp | Soạn văn 12 | Soạn bài lớp 12

- Lượt lời đầu tiên của "thị" là hướng tới Tràng.

c. Các nhân vật giao tiếp đều bình đẳng về vị thế xã hội.

d. Lúc đầu quan hệ còn xa lạ nhưng sau đó họ nhanh chóng trở nên thân tình vì cùng lứa tuổi, cùng vị thế xã hội.

e. Những đặc điểm đó chi phối lời nói của các nhân vật giao tiếp.

- Ban đầu: chưa quen => trêu đùa, thăm dò

- Quen rồi: mạnh dạn hơn.

- Cùng lứa tuổi, cảnh ngộ => sau đó giao tiếp rất suồng sã.

Câu 2:

a. Trong đoạn trích trên có những nhân vật giao tiếp là:

- Bá Kiến

- Mấy bà vợ Bá Kiến

- Bọn người làng

- Chí Phèo

- Lí Cường

Bá Kiến nói với một người nghe là: Chí Phèo, Lí Cường; nói với nhiều người nghe là: mấy bà vợ, dân làng.

b. Vị thế của Bá Kiến:

- Với mấy bà vợ: BK là chồng => quát đuổi về

- Với dân làng: là cụ lớn, thuộc tầng lớp trên => nói có vẻ tôn trọng, giọng cũng dịu lại (thực chất là đuổi khéo)

- Với Lí Cường: là cha => quát đuổi con, thực chất để xoa dịu Chí Phèo.

- Với Chí Phèo: vừa là chủ cũ vừa là người đẩy Chí Phèo vào tù => vừa thăm dò, vừa dỗ dành.

c. Sau khi ở tù về, Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với ý định trả thù. Bá Kiến đi vắng nên xảy ra xô xát với Lí Cường, vừa lúc đó thì Bá Kiến về. Nhìn qua một lượt, Bá Kiến hiểu rõ cơ sự liền tung ta chiến lược đẹp yên sự vụ có thể gieo tai họa lên gia đình hắn. Trong những lời thoại trên Bá Kiến sắp xếp lần lượt các lời thoại để tấn công hạ gục Chí Phèo.

- Bá Kiến tìm cách đuổi hết mọi người vừa để tránh to chuyện vừa cô lập Chí Phèo. Chí Phèo cảm thấy đơn độc, nhuệ khí tan dần theo hơi rượu.

- Bá Kiến đã vuốt giận Chí Phèo bằng lời lẽ ngọt ngào và cách xưng hô tâng bốc: Anh Chí ơi! Rồi thân mật: cái anh này, tiếp đến là cách xưng hô như người trong nhà với ngôi thứ nhất số nhiều: ta (để phân biệt với người ngoài). Bên cạnh cách xưng hô là những lời nói nhẹ nhàng, khích lệ, động viên và hành động như người quen thân lâu ngày mới gặp.

- Để Chí Phèo không xem là đối địch, Bá Kiến đã nhận Chí Phèo là người nhà, là họ hàng. Cách nâng vị thế giao tiếp làm cho Chí Phèo hãnh diện vì được ngang hàng với gia đình danh giá nhất làng, chắng mấy chốc hắn quên mất ý định ban đầu.

- Đòn cuối cùng Bá Kiến mắng Lí Cường với giọng đắc thắng là để tôn Chí Phèo và Bá Kiến đã được mục đích dập tắt ngọn lửa căm thù trong lòng Chí Phèo, bóp chết ý định trả thù của Chí trong trứng nước.

d. Bá Kiến đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp:

- Những người nghe trong cuộc hội thoại đều răm rắp nghe lời Bá Kiến.

- Chí Phèo hung hãn khi đến nhưng cuối cùng cũng bị khuất phục, thấy lòng nguôi nguôi ...

Luyện tập

Câu 1: Hai nhân vật giap tiếp là anh Mịch, một người nông dân là lí trưởng, kẻ chức sắc có quyền thế trong làng.

Soạn bài: Nhân vật giao tiếp | Soạn văn 12 | Soạn bài lớp 12

Câu 2:

- Viên đội sếp Tây: vị thế xã hội là người có quyền thế, nghề nghiệp cảnh sát, giới tính là nam, văn hóa kém cỏi vì lời thoại vừa hống hách vừa có thái độ phân biệt chủng tộc.

- Nhân vật đám đông: vị thế xã hội thấp, văn hóa cũng thấp nên lời thoại mang tình hiếu kì.

- Chú bé con còn ngây thơ nên chỉ chú ý chi tiết lạ mắt của viên Toàn quền và chỉ nhìn đối tượng ở bên ngoài.

- Chị con gái, tuổi hồn nhiên, thích làm đẹp nên chỉ quan tâm đến trang phục.

- Anh sinh viên là người có trình độ văn hóa, quan tâm đến hoạt động xã hội và chính trị nên nghĩ đến việc làm của viên Toàn quyền.

- Bác cu-li xe vất vả với nghề nghiệp của mình, văn hóa còn thấp nên nhìn đối tượng có liên quan đến chuyện miếng cơm manh áo của mình.

- Nhà nho học vấn uyên thâm nên có cái nhìn sâu sắc: nhìn bên ngoài có thể đánh giá bản chất bên trong của đối tượng.

Nhận xét chung: Lời thoại của nhân vật giao tiếp thường phản ánh trình độ học vấn, văn hóa, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp của nhân vật đó.

Câu 3:

a. Quan hệ giữa bà lão hàng xóm và chị dậu là quan hệ hàng xóm láng giềng thân tình.

Điều đó chi phối lời nói và cách nói của 2 người - thân mật:

- Bà lão: bác trai, anh ấy, ...

- Chị Dậu: cảm ơn, nhà cháu, cụ, ...

b. Sự tương tác về hành động ngôn ngữ giữa các lượt lời:

- Hỏi thăm - cảm ơn

- Đề nghị - lĩnh hội

- Đề nghị - (đồng ý)

c. Đoạn hội thoại cho thấy cách ứng xử của hai nhân vật thân mật nhưng không suồng sã vì tình chất quan trọng của nội dung đề tài. Văn hóa ứng xử ấy rất đẹp, đáng trân trọng. Họ là những người nông dân giàu tình cảm và trách nhiệm.

Bạn hỏi - Lazi trả lời

Bạn muốn biết điều gì?

GỬI CÂU HỎI
Học tập không giới hạn cùng học sinh cả nước và AI, sôi động, tích cực, trải nghiệm
Bài tập Ngữ văn Lớp 12 mới nhất

Hôm nay bạn thế nào? Hãy nhấp vào một lựa chọn, nếu may mắn bạn sẽ được tặng 50.000 xu từ Lazi

Vui Buồn Bình thường

Học ngoại ngữ với Flashcard

×
Gia sư Lazi Gia sư
×
Trợ lý ảo Trợ lý ảo