Bài tập  /  Bài đang cần trả lời

Phân tích bài thơ Lai Tân

Phân tích bài thơ Lai Tân 
2 trả lời
Hỏi chi tiết
14
Tham khảo câu trả lời từ Trợ lý ảo Lazi
Bài thơ “Lai Tân” của tác giả Huy Cận là một trong những tác phẩm tiêu biểu trong thơ ca hiện đại Việt Nam. Dưới đây là một phân tích về bài thơ này.

### 1. **Nội dung và chủ đề:**
Bài thơ “Lai Tân” được viết trong bối cảnh tác giả trở về quê hương, nơi vùng đất Lai Tân, sau một thời gian dài sống xa quê. Nội dung của bài thơ thể hiện nỗi nhớ quê, tâm tư của con người trước không gian và thời gian. Qua đó, tác giả gửi gắm những cảm xúc sâu sắc về tình yêu quê hương, bản sắc văn hóa dân tộc và nỗi buồn trước sự đổi thay của thời gian.

### 2. **Tâm trạng và cảm xúc:**
Tác giả thể hiện sự hoài niệm về quê hương, nơi có những kỷ niệm ngọt ngào thời thơ ấu. Những hình ảnh quê hương được tái hiện qua các dòng thơ với bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, giản dị. Có sự phân vân giữa nỗi nhớ và hiện tại, giữa cái đẹp muôn màu của thiên nhiên và nỗi buồn trước sự thay đổi của cuộc sống.

### 3. **Hình ảnh và biện pháp tu từ:**
Trong bài thơ, Huy Cận đã sử dụng nhiều hình ảnh sinh động, giàu cảm xúc. Những chi tiết về thiên nhiên, như cánh đồng xanh, hàng cây, dòng suối... được khắc họa rõ nét, mang đến cho người đọc cảm giác gần gũi và thân thuộc. Các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, điệp từ cũng được sử dụng một cách tinh tế, góp phần nhấn mạnh tâm trạng của tác giả.

### 4. **Tính triết lý:**
Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh vật hay tâm trạng, bài thơ còn hàm chứa những triết lý sâu sắc về cuộc sống. Nó phản ánh sự trăn trở của con người trước sự biến động của thời gian và xã hội, và cách mà con người tìm kiếm bản sắc, giá trị mà mình theo đuổi giữa dòng xoáy của hiện đại hóa.

### 5. **Kết luận:**
Bài thơ “Lai Tân” không chỉ đơn thuần là một tác phẩm về quê hương mà còn là một hành trình khám phá bản thân và những giá trị sống. Qua bài thơ, Huy Cận đã thể hiện được tâm hồn nhạy cảm và sâu sắc của mình, đồng thời gửi gắm những thông điệp ý nghĩa về tình yêu quê hương, bản sắc và nỗi niềm trước quy luật của thời gian.

Nhìn chung, “Lai Tân” là một bài thơ đẹp, giàu cảm xúc, thể hiện rõ vẻ đẹp của thơ ca Huy Cận và tình yêu thiết tha của ông với quê hương đất nước.
2
0
Huỳnh Mai
hôm qua
+5đ tặng

Bài thơ Lai Tân là một trong những tác phẩm nổi bật của nhà thơ Hồ Chí Minh, viết về miền đất mới Lai Tân trong thời gian Người sống và làm việc tại Trung Quốc. Bài thơ không chỉ thể hiện tâm hồn nhạy cảm và tình yêu thiên nhiên của tác giả mà còn mang đậm dấu ấn của sự thấm nhuần lý tưởng cách mạng. Dưới đây là một số phân tích chi tiết về bài thơ này.

 Bài thơ Lai Tân mở ra với cảnh thiên nhiên tươi đẹp, trong lành. Hồ Chí Minh miêu tả vẻ đẹp của đất nước và con người Lai Tân với những nét đẹp hoang sơ và giản dị. Bài thơ thể hiện một tình yêu thiên nhiên mãnh liệt, một sự gần gũi, hòa nhập vào thiên nhiên, nơi mà con người có thể tìm thấy sự thanh thản và bình yên. Chủ thể trữ tình trong bài thơ không chỉ là cái tôi cá nhân mà còn là tiếng nói của một người chiến sĩ cách mạng, người luôn gắn bó với thiên nhiên và hiểu rằng sự gắn kết với thiên nhiên sẽ mang lại sức mạnh tinh thần cho con người trong hành trình đấu tranh gian khổ.

 Dù bài thơ miêu tả cảnh vật của Lai Tân, nhưng ẩn sau đó là nỗi nhớ quê hương sâu sắc. Cảnh vật của Lai Tân đẹp đẽ nhưng cũng khiến tác giả nhớ về quê hương, về những kỷ niệm cũ. Nỗi nhớ quê hương được Hồ Chí Minh thể hiện qua những hình ảnh rất mộc mạc nhưng cũng đầy sâu sắc. Đây chính là sự hòa quyện giữa tình yêu thiên nhiên và nỗi nhớ quê hương, giữa tình cảm cá nhân và lý tưởng cách mạng.

   Mặc dù bài thơ không trực tiếp nói về lý tưởng cách mạng, nhưng những dòng thơ thấm đẫm khát vọng, niềm tin vào một tương lai tươi sáng, một đất nước tự do, độc lập. Sự lạc quan trong bài thơ cũng thể hiện sự kiên cường của Hồ Chí Minh trong hành trình đấu tranh, một niềm tin vào sự thắng lợi của chính nghĩa và sự đoàn kết của con người.

   Bài thơ Lai Tân sử dụng lối viết giản dị nhưng rất giàu hình ảnh và cảm xúc. Những câu thơ ngắn gọn, dễ hiểu nhưng lại chạm vào trái tim người đọc. Hồ Chí Minh sử dụng những hình ảnh thiên nhiên gần gũi và dễ cảm nhận như "đồi núi", "suối", "hoa", "cây cỏ" để thể hiện những tư tưởng sâu sắc, khẳng định vai trò của thiên nhiên trong việc nuôi dưỡng tâm hồn con người.

  Bài thơ Lai Tân không chỉ là những dòng thơ miêu tả thiên nhiên tươi đẹp mà còn chứa đựng nhiều suy tư, triết lý về cuộc sống, về tình yêu quê hương, về lý tưởng cách mạng. Tác phẩm thể hiện lòng yêu nước, sự lạc quan, niềm tin vào cuộc sống và khát vọng tự do, độc lập của Hồ Chí Minh. Bài thơ là một minh chứng cho sự kết hợp giữa tình yêu thiên nhiên và lý tưởng cách mạng, qua đó tôn vinh giá trị của tự do, độc lập và sự hy sinh của con người trong cuộc đấu tranh gian khổ.


 

Mở khóa để xem toàn bộ nội dung trả lời

(?)
Bạn đã đạt đến giới hạn của mình. Bằng cách Đăng ký tài khoản, bạn có thể xem toàn bộ nội dung trả lời
Cải thiện điểm số của bạn bằng cách đăng ký tài khoản Lazi.
Xem toàn bộ các câu trả lời, chat trực tiếp 1:1 với đội ngũ Gia sư Lazi bằng cách Đăng nhập tài khoản ngay bây giờ
Tôi đã có tài khoản? Đăng nhập
2
0
+4đ tặng

Vào khoảng những năm ba mươi của thế kỷ XX, trên văn đàn Việt Nam đã dần dần có một sự trưởng thành mới. Thi ca giờ đây của Việt Nam không còn bị lệ thuộc vào những quy ước khắt khe của Nho gia rằng tất cả nhà thơ không được bộc lộ cái tài một cách tự do. Bước vào giai đoạn này, mỗi thi sĩ lại hiện diện trên văn đàn với một tư thế rất riêng, của riêng mình. Cũng bởi vì cái riêng này, họ - thi sĩ thời đại mới – đã có những định nghĩa rất khác về thơ. Nếu Xuân Diệu cho rằng

“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”

Thì Hàn Mặc Tử lại nói: “Thi sĩ là người gánh trên vai cả nỗi đau nhân loại”. Câu hỏi đặt ra rằng “nỗi đau nhân loại” đó là gì? Có thể là nỗi phiền muộn “tương tư” như Nguyễn Bính chăng? Hay là tư thế “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” của Huy Cận? Bên cạnh những nỗi đau trên, Hồ Chí Minh cũng đã “vô tình” thêm vào “nỗi đau nhân loại” kia một góc nhìn rất khác. Đó là góc nhìn vào cái xấu xa, thối nát của xã hội. Không còn chỉ là gói gọn trong “vòng trời đất dọc ngang ngang dọc” của đất Việt mà đã chạm đến cái mục cửa của xã hội Trung Quốc do chính quyền Tưởng Giới Thạch đứng đầu lúc bấy giờ. Tuy rằng “ngâm thơ ta vốn không ham” nhưng nếu là con người thì Hồ Chí Minh lại thờ ơ với những gì chướng tai gai mắt thế sao? Chỉ gói gọn trong bài thơ “Lai Tân”, tác giả đã nhẹ nhàng nhưng lại đả kích sâu cay một xã hội

“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc
Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh
Chong đèn, huyện trưởng làm công việc
Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”

Vì là người tù của chế độ Tưởng Giới Thạch nên không có gì khó hiểu khi tác giả lại vẽ ra một bức tranh hiện thực sắc sảo đến thế. Khi lược đọc qua bài thơ, người ta sẽ dễ dàng nhận thấy một nghịch lý – một nghịch lý rất lớn. Đúng rằng không thể phủ nhận được trong thi ca không được có những nghịch lý. Thi ca vẫn được quyền có những nghịch lý. Những nghịch lý đó đôi khi là cảnh “Hầu trời” của Tản Đà hay làm sao có thể được khi Xuân Diệu lại muốn “cắn” vào “xuân hồng”. Tuy là nghịch lý đấy nhưng tất cả đều mang trong mình một nét dễ thương của con người “ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. Nghĩa là tuy nghịch lý về vật chất nhưng lại hợp lý trong tâm khảm.

Cái nghịch lý ở đây mà Hồ Chí Minh đặt ra cũng thế. Cái nghịch lý này giờ đây đã kèm theo chút nóng giận, bực tức. Làm sao có thể được khi một xã hội “ban trưởng chuyên đánh bạc”, “cảnh trưởng” lại “kiếm ăn quanh” mà “trời đất Lai Tân vẫn thái bình”? Quả thật, nếu như định nghĩa rằng “ban trưởng” là người trông coi nhà lao và “cảnh trưởng” là những người có nhiệm vụ giải tù nhân. Tất cả họ dường như đều chung một công việc là giáo dục tù nhân, giúp tù nhân tốt hơn. Nhưng thực tế thì không phải vậy.

Trong cái nghịch lý chủ đạo đã trình bày thì lại đâu đó nhen nhóm lên những nghịch lý khác. Chính là tại sao trong tù lại có cái nạn đánh bạc? Vẫn biết rằng chính xã hội lúc bấy giờ bên Trung Quốc thì món đánh bạc bị luật cấm. Nếu như anh đánh bạc thì không những anh, mà cả vợ con anh cũng bị liên lụy; còn riêng anh, anh phải đi tù. Đó là một thực tế và thực tế này đã được Hồ Chí Minh phác lại qua một lời ăn năn, hối tiếc của tên tù cờ bạc:

“Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội
Trong tù đánh bạc được công khai
Bị tù con bạc ăn năn mãi
Sao trước không vô quắt chốn này?”

Chính bài thơ trên đã vẽ ra rất khéo sự lạm quyền đến khốn nạn của chế độ lúc đó. “Con bạc” kia bị tù là đáng rồi, thích đáng cho việc hắn làm. Nhưng làm sao có thể im lặng được khi cái kẻ bắt mình vì tội đánh bạc thì chính y cũng đánh bạc. Thế là cả cai tù và phạm nhân đều là tòng phạm. Cùng đánh bạc với nhau cả thôi, nếu tôi có tội thì anh cũng chẳng thoát; thế mà lấy cái tư cách gì mà anh bắt tôi? Quả đúng như thế, vị quan kia không có tư cách để “bắt tội” nhưng hắn có quyền. Hắn có quyền, cái quyền mà chế độ Tưởng Giới Thạch đã “ban tặng” cho hắn. Và rồi cái nghịch lý ở đây là nhà lao giờ đây đã bị biến thành sòng bạc “được công khai”. Tại đây, ngay cái nơi mà tù nhân ước gì mình đừng vô đây lại được cấp giấy phép đánh bạc. Ngay cả đến “con bạc ăn năn mãi”: thà lúc trước vào đây đánh bạc để khỏi bị kết tội. Nực cười chăng? Cũng có thể. Chua cay chăng? Cũng có thể. Đau đớn chăng? Cũng có thể. Cái nhà tù Tưởng Giới Thạch là thế đấy!

Và rồi, không chỉ có nạn đánh bạc vậy đâu mà nơi đây còn bị Hồ Chí Minh chụp ảnh lại:

“Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh”.

Lại thêm cái nạn hối lộ. Đã quá đong đầy những sự thối nát, mục cửa của nhà tù Tưởng Giới Thạch. Khi bước vào lao tù, phạm nhân luôn ý thức rằng này đây mình sẽ bị đánh, bị đối xử có thể thậm chí như một súc vật. Biết là thế nhưng nếu với ý nghĩa nhà tù là nơi cải tạo phạm nhân thì lại sao có cái tình trạng hối lộ? Nghịch lý! Ở một bài thơ khác, tác giả cũng đã khắc lại cái trớ trêu, cái khốn nạn của thói ăn hối lộ này một cách rất chân thực:

“Mới đến nhà lao phải nộp tiền
Lệ thường ít nhất năm mươi nguyên
Nếu anh không có tiền đem nộp
Mỗi bước anh đi một bước phiền”

Thì ra cái thói ăn hối lộ là một “lệ thường”. Bây giờ đã rõ đến tận gốc rễ của sự việc. “Cảnh trưởng” dường như có được cái quyền làm cho “mỗi bước anh đi một bước phiền” nếu như tù nhân không có “năm mươi nguyên” đem nộp. Ở nơi “tối tăm mù mịt ấy”, tác giả đã thấy, đã chua xót, đã cay đắng vì cái nghịch lý khốn nạn, trớ trêu này. Dường như tác giả đang tìm một sự hợp lý nào đó.

“Chong đèn, huyện trưởng làm công việc”

Tưởng chừng như “huyện trưởng” là một vị quan rất lo cho dân, rất thương dân nên khi đêm đã về, vạn vật như chìm đắm trong giấc mộng thì ông lại “thiêu đăng” để làm việc. Điều này thật là quý hóa! Nhưng câu hỏi đặt ra nếu như ông ta lo lắng cho dân, cho nước như thế thì tại sao cấp dưới của ông ta lại xảy ra, xuất hiện những thói đời như thế. Phải chăng ông là người có tài nhưng lại bất lực; hay ông cố tình cho qua và “cho phép” cấp dưới được quyền như thế? Vấn đề đặt ra tiếp theo rằng phải chăng “huyện trưởng” đã được cấp dưới đút lót? Đó quả là một câu hỏi lớn - một câu hỏi phải để cho chính chế độ đó trả lời. Một mặt khác, nếu như đánh đồng những đối tượng trong ba câu thơ đầu thì có lẽ “huyện trưởng” hằng đêm “thiêu đăng” để hút thuốc phiện. Không phải một cách cường điệu mà ghép hết tội này đến tội khác cho ông; nhưng dù có cố tìm một lý do chính đáng cho những hành động giữa đêm như thế trong bối cảnh này cũng là khó khăn.

Chỉ cần lướt qua ba câu thơ đầu của “Lai Tân”, người đọc đã có thể thấy đó như một thước phim mà tác giả đang cố tái hiện lại một cách chân thực. Thước phim này chiếu lại một bộ máy cai trị ở Lai Tân gồm “ban trưởng”, “cảnh trưởng”, “huyện trưởng” với những việc làm xem ra là bình thường trong cái xã hội bấy giờ. Bình thường đến mức tầm thường! Thực tế là vậy. Một điều minh nhiên rằng cái xã hội đó sẽ không “thái bình”. Nhưng đến câu cuối bài thơ, với tất cả những sự việc như thế mà tác giả lại kết luận rằng:

“Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”

Dường như là dửng dưng và vô cùng nghịch lý. Tuy là thế nhưng tác giả đã đả kích một cách nhẹ nhàng nhưng lại thấm thía. Nhãn tự “thái bình” đồng thời vừa vạch ra một nghịch lý, vừa vẽ ra một hợp lý mang “phong cách” Tưởng Giới Thạch. Phải chăng “thái bình” là do được sự đồng lòng nhất quán từ “cảnh trưởng”, “ban trưởng” đến “huyện trưởng”. Tất cả đều như nhau, cũng thối nát, mục rữa. Lại thêm với nhãn tự “thái bình”, tác giả dường như đang khẳng định rằng tình trạng của chế độ thống trị xã hội Trung Quốc bấy giờ vẫn xảy ra bình thường, không có gì phải lạ cả, thậm chí điều đó gần như là bản chất của guồng máy cai trị ở đây. Chỉ cần như thế thôi, tác giả đã mỉa mai châm biếm cái xã hội dưới thời Tưởng Giới Thạch đó một cách sâu sắc đến vậy. Sâu sắc là bởi thi nhân đã nhìn thấy vào trong cái sự thật đã được che đậy bằng bề mặt giả tạo của bộ máy cai trị này.

Hồ Chí Minh dường như đã thật sự trở thành một thi sĩ vì tác giả đã “gánh trên vai cả nỗi đau nhân loại”. Thi nhân vừa thương vừa đả kích mạnh mẽ. Bút pháp châm biếm nhẹ nhàng mà thấm thía cùng nhãn tự “thái bình” đặc biệt xen giữa nhịp thơ 4/3 đã giúp thi sĩ hoàn thành “Lai Tân”. Rất chính đáng, vô lý nhưng lại có lý hết lời!

Quang Cường
Cậu ơi , cậu có thể chấm điểm giúp tớ đc khum ạ >w<

Bạn hỏi - Lazi trả lời

Bạn muốn biết điều gì?

GỬI CÂU HỎI
Học tập không giới hạn cùng học sinh cả nước và AI, sôi động, tích cực, trải nghiệm
Bài tập liên quan
Bài tập Ngữ văn Lớp 8 mới nhất
Trắc nghiệm Ngữ văn Lớp 8 mới nhất

Hôm nay bạn thế nào? Hãy nhấp vào một lựa chọn, nếu may mắn bạn sẽ được tặng 50.000 xu từ Lazi

Vui Buồn Bình thường

Học ngoại ngữ với Flashcard

×
Trợ lý ảo Trợ lý ảo
×
Đấu trường tri thức | Lazi Quiz Challenge +500k